|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 149/2024/DS-PT Ngày: 24 - 7 - 2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm
Các Thẩm phán:
Ông Trịnh Hoàng Anh
Bà Bùi Thị Thương
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Bà Bùi Thị Doan - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Từ ngày 18 đến ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 153/2024/QĐ-PT ngày 11/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 165/2024/QĐ-PT ngày 20/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1933; Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Yến D, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ G, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1952 và bà Trần Thị Y, sinh năm 1953; Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Bà Trần Thị Y ủy quyền cho ông Hồ Văn T tham gia tố tụng. (Ông T có mặt; bà Y vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị L là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà Trần Thị L là chủ sử dụng diện tích đất 4.822m² thửa số 16 và 479, tờ bản đồ số 23 và 19, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 002906 ngày 29/11/1994.
Năm 2002, bà L chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, bà Y diện tích đất 267m² thuộc thửa 633 (mới là thửa 59), tờ bản đồ 19 (mới 05), xã L, thành phố B, hai bên có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tại thời điểm chuyển nhượng cho vợ chồng ông T là đất trống.
Năm 2011 bà Trần Thị L xin cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 23 thành thửa 59, tờ bản đồ số 5 và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất 1192.3m² thuộc thửa số 59, tờ bản đồ số 5, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 439714 do UBND thị xã (nay là thành phố) Bà Rịa cấp ngày 26/9/2012.
Năm 2022, Nhà nước mở đường tỉnh lộ 52, có thu hồi một phần diện tích đất thì các con của bà L về xây nhà cho bà L có đo đạc lại và phát hiện gia đình ông T xây tường rào chồng lấn qua phần đất của bà L với diện tích là 11m² thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại xã L, thành phố B theo mảnh trích đo bổ sung số 356 ngày 06/11/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B. Năm 2004, vợ chồng ông T tiến hành xây nhà nhưng hàng rào thì vợ chồng ông T xây sau này, ngoài phần diện tích đất tranh chấp 11m² là bức tường xây cao khoảng 2m, dài khoảng 22m thì phía trên không gian phần mái nhà của ông T có chồng lấn qua đất của bà L nếu sau này bà L có nhu cầu xây nhà thì sẽ bị vướng không xây được nên yêu cầu ông T, bà Y phải tháo dỡ.
Vì vậy, bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Hồ Văn T, bà Trần Thị Y trả lại cho bà Trần Thị L diện tích đất 11m² thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 439714 do UBND thị xã (nay là thành phố) Bà Rịa cấp ngày 26/9/2012 và yêu cầu ông T, bà Y tháo dỡ phần mái nhà trên không gian vì nếu sau này gia đình bà L xây nhà cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn ông Hồ Văn T và bà Trần Thị Y trình bày: Ông Hồ Văn T, bà Trần Thị Y là chủ sử dụng diện tích đất 298,7m² thửa số 55, tờ bản đồ số 05 tại xã L, thành phố B. Nguồn gốc đất là do ông T, bà Y nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị L từ năm 2002, diện tích tại thời điểm chuyển nhượng là 267,0m² hai bên có ký hợp đồng chuyển nhượng và được công chứng tại UBND xã L, thành phố B. Đến năm 2004 vợ chồng ông T có nhu cầu xây dựng nhà ở nhưng do phần diện tích nhận chuyển nhượng bị xéo nên có thỏa thuận miệng với bà L mua thêm khoảng 1m ngang, dài khoảng 34m với giá tiền là 25.000.000 đồng để cho phần đất được thẳng, bà L đồng ý và đã nhận đủ số tiền trên, thời điểm hai bên nhận chuyển nhượng là đất trống, bà L đã ra thực địa chỉ ranh giới đất cho gia đình ông T và có cắm mốc bằng trụ bê tông.
Năm 2004, vợ chồng ông T tiến hành xây dựng căn nhà cấp 3 như hiện nay, hàng rào xây hiện nay là ranh giới giữa hai bên ổn định từ đó cho đến nay, khi gia đình ông T xây nhà và xây hàng rào nhà bà L ranh giới sát bên nhưng bà L không có ý kiến gì, không tranh chấp gì.
Năm 2002, ông T và bà Y đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số V 051520 đối với diện tích 267m² thửa 633, tờ bản đồ số 23 (diện tích 195m²) và thửa 623, tờ bản đồ số 19 (diện tích 72m²). Ngày 23/11/2011 ông T, bà Y có đơn xin cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để được cấp giấy theo đúng thực trạng đang sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận số BH 439725 với diện tích 298,7m² thửa số
55, tờ bản đồ số 05, xã L, thành phố B. Đến năm 2018 nhà nước mở rộng tỉnh lộ 52 có thu hồi của gia đình ông T diện tích đất 55,9m², như vậy diện tích thực tế của ông T, bà Y còn lại sau khi thu hồi là 242,8m².
Theo Mảnh trích đo địa chính bổ sung ngày 06/11/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B thì phần diện tích ông T, bà Y sử dụng chồng lấn thửa 59, tờ bản đồ số 05, xã L của bà L là 11m², phần diện tích này chính là phần bức tường xây cao khoảng 2m, dài khoảng 22m xây từ năm 2004 cùng với thời điểm xây nhà.
Đối với phần đất đang tranh chấp là 11m² ông T cho rằng không lấn chiếm phần đất này mà xây theo sự chỉ ranh của bà L tại thời điểm chuyển nhượng, ông T yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất này cho ông T, bà Y. Còn đối với phần trên không gian theo yêu cầu của bà L và theo biên bản xác minh ngày 27/12/2023 của Tòa án thì ông T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý với các yêu cầu do bị đơn đưa ra; Bị đơn xác nhận bị đơn có mua thêm của nguyên đơn 1m đất nhưng giấy tờ đã bị thất lạc. Bị đơn yêu cầu được sử dụng đất để giữ nguyên hiện trạng và trả lại giá trị bằng tiền cho nguyên đơn, nếu nguyên đơn không đồng ý và cho rằng bị đơn lấn đất thì nguyên đơn tự đập bỏ hàng rào và xây lại hàng rào cho bị đơn.
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa đã quyết định như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất” với ông Hồ Văn T, bà Trần Thị Y.
- Công nhận phần đất có tổng diện tích 11m², có tọa độ nối từ các điểm 4-4A-4B-16-16A -4) thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 05, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Mảnh trích đo địa chính bổ sung số 356/2023 ngày 06/11/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Hồ Văn T, bà Trần Thị Y.
- Buộc ông Hồ Văn T, bà Trần Thị Y phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường diện tích 11m² là 35.200.000 đồng.
- Điều chỉnh giảm một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 439714 ngày 26/9/2012của UBND thị xã B (nay là thành phố B) cấp cho bà Trần Thị L đối với diện tích 11m² (nằm trong tổng diện tích đất được cấp giấy 1192.3m² thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 05 xã L, thành phố B) do Tòa án đã xác định thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Hồ Văn T, bà Trần Thị Y.
Các đương sự được quyền liên hệ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chỉnh lý biến động theo quyết định của bản án và theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ do chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
- Ngày 02/02/2024 nguyên đơn bà L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn phần
diện tích đã lấn chiếm 11m², đồng thời tháo dỡ toàn bộ công trình kiến trúc mà bị đơn lấn chiếm này để trả lại đất cho nguyên đơn.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Căn cứ sơ đồ ngày 16/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B vẽ bổ sung theo sự chỉ ranh của các đương sự thể hiện: diện tích ông T, bà Y lấn chiếm trên mặt đất là 11m²; phần lan can mái nhà vượt quá khoảng không 11m² lấn chiếm trên mặt đất (ranh là tường rào nhà ông T, bà Y đến ranh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 59 của bà L) là 3m² thuộc khoảng không gian của một phần thửa đất số 59 thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị L chưa được Tòa sơ thẩm giải quyết. Bà Trần Thị L khởi kiện và kháng cáo yêu cầu ông Hồ Văn T, bà Trần Thị Y trả lại diện tích đất lấn chiếm trên mặt đất và khoảng không gian lấn chiếm. Như vậy, Tòa sơ thẩm chưa giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu: Buộc ông Hồ Văn T, bà Trần Thị Y trả lại cho bà Trần Thị L diện tích đất 11m² thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 5, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 439714 do UBND thị xã (nay là thành phố) Bà Rịa cấp ngày 26/9/2012 và yêu cầu ông Hồ Văn T, bà Trần Thị Y phải tháo dỡ phần mái nhà trên không gian vì nếu sau này gia đình bà L xây nhà cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Theo mảnh trích đo địa chính ngày 06/11/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B thể hiện phần đất tranh chấp là 11m² thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 5, xã L, thành phố B.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, nguyên đơn xác nhận quá trình giải quyết vụ án không thay đổi yêu cầu khởi kiện, tuy nhiên do không hiểu rõ vấn đề đo đạc nên khi đo đạc đất tranh chấp tại Tòa án cấp sơ thẩm thì nguyên đơn chưa chỉ ranh để đo vẽ hết diện tích đất tranh chấp trên không gian và toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp nên án sơ thẩm chưa giải quyết hết yêu cầu của nguyên đơn. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải tháo dỡ hàng rào, mái hiên trên không gian và toàn bộ tài sản trên đất tranh chấp để trả lại đất cho nguyên đơn.
Qua xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc tại Tòa án cấp phúc thẩm, tại mảnh trích đo địa chính ngày 18/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B thể hiện ngoài phần đất 11m² đang tranh chấp theo mảnh trích đo địa chính ngày 06/11/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B do Tòa án cấp sơ thẩm làm căn cứ giải quyết vụ án thì còn 03m² phần mái hiên nhà ông T trên phần đất tranh chấp chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết.
Như vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết 02 phần đất là phần lấn chiếm xây hàng rào bao quanh là 11m² và phần có công trình không gian trên đất. Tòa án cấp sơ thẩm mới chỉ giải quyết một phần là 11m² bị đơn xây hàng rào bao quanh và phía trên có một phần mái hiên, chưa giải quyết phần đất 03m² có mái hiên trên phần không gian là chưa giải quyết hết yêu cầu của nguyên đơn.
Do Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa bảo đảm giải quyết toàn diện, triệt để vụ án, ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung khắc phục được nên hủy bản án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết hết yêu cầu khởi kiện là do nguyên đơn chỉ ranh đo vẽ chưa hết diện tích đất tranh chấp theo yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm.
[2] Chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ tại Tòa án cấp phúc thẩm là 2.992.000 đồng: Nguyên đơn tự nguyện chịu. Đã nộp xong.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị 1 không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Trần Thị L với bị đơn là ông Hồ Văn T và bà Trần Thị Y.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ tại Tòa án cấp phúc thẩm là 2.992.000 đồng: Nguyên đơn tự nguyện chịu. Đã nộp xong.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị L không phải chịu.
- Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Tâm |
Bản án số 149/2024/DS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 149/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc BĐ trả lại cho NĐ diện tích đất 11m2 thuộc thửa 59, tờ bản đồ số 5 tọa lạc tại xã L, thành phố B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 439714 do UBND thị xã (nay là thành phố) Bcấp ngày 26/9/2012 và yêu cầu BĐ tháo dỡ phần mái nhà trên không gian vì nếu sau này gia đình NĐ xây nhà cũng sẽ bị ảnh hưởng.
