Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 149/2024/HS-ST
Ngày 23/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Chương
Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 129/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Hà Thanh T, sinh năm 1982 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số A đường N, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Hà Thanh H1, sinh năm 1969; Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1971; Vợ: Danh Thị Kim Q, sinh năm 1993; Con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 19 tháng 12 năm 2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1971; Địa chỉ: số A N, phường G, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 19/12/2023, tại trước nhà số E+E24 đường L, phường I, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, lực lượng Biên phòng B, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh B, phát hiện bắt quả tang Hà Thanh T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (methamphetamine) đồng thời thu giữ vật chứng của vụ án. Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Đồn Biên phòng B1, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh B đã chuyển hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố V để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Hà Thanh T khai nhận: Ngày 18/12/2023 do có việc buồn nên T đã một mình đến quán H4 tại địa chỉ số A T, phường T, thành phố V để chơi. Tại đây T đã được một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) mời mua ma túy sử dụng. Sau khi thỏa thuận, T đã đồng ý mua 01 gói nilon bên trong chứa chất kết tinh không màu là ma túy với giá 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Sau đó T vào nhà vệ sinh sử dụng một phần, số ma túy còn lại T cất giấu trong túi quần. Đến khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 19/12/2023, khi T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha loại Mio, biển số 72K6-4884, số khung RLCM5WP905Y004468, số máy 5WP9-004468 đến trước nhà số E+E24 đường L, phường I, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị lực lượng Biên phòng B, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh B kiểm tra phát hiện đồng thời thu giữ số ma túy còn lại. T tàng trữ số ma túy trên để sử dụng cho bản thân.

Lời khai của Hà Thanh T phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm: 1975; trú tại: số A đường C, Phường A, Thành phố V) và phù hợp với chứng cứ thu thập được.

Tại Bản kết luận giám định số: 32/KL-KTHS-MT ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Đồn biên phòng B2, Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh B, cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Hoàng Minh Đ, Nguyễn Minh T2, Hà Thanh T, Trương Hoàng A, Nguyễn Văn T1 bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu gửi đến giám định có khối lượng 0,1838 gam, là ma túy, loại methamphetamine.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

- 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha loại Mio, biển số: 72K6-4884, số khung: RLCM5WP905Y004468, số máy: 5WP9-004468. Qua xác minh xác định, bà Nguyễn Thị Bích L (sinh năm 1986; trú tại A T, P, L) là chủ xe. Ngày 7/3/2006 bà L bán lại cho ông Nguyễn Ngọc T3 (sinh năm: 1967, trú tại: D B, phường N, thành phố V), sau đó ông T3 bán lại cho bà Phạm Thị H2 (Sinh năm 1968) và chồng là ông Nguyễn Thành L1 (sinh năm 1969) cùng trú tại: số A L, phường A, Thành phố V, sau đó bà H2, ông L1 đã bán xe lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc D (sinh năm 1971; trú tại: số A N, phường G, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là mẹ của T và không làm giấy tờ mua bán mà đưa cho bà D giấy tờ mua bán xe giữa bà L và ông T3.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi (imei 1: 866616051000145/78, imei 2: 866616051000152/78);

- 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu. Sau giám định phòng K30 Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B hoàn lại 01 (một) phong bì niêm phong vụ số 32 ngày 22/12/2023 có chữ ký của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ1; Võ Thanh H3; Đỗ Thị Linh S; Trần Xuân T4.

Hiện chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 118/CT-VKSTPVT ngày 10/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Hà Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án; Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi (imei 1: 866616051000145/78, imei 2: 866616051000152/78); Trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc D 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha loại Mio, biển số: 72K6-4884, số khung: RLCM5WP905Y004468, số máy: 5WP9-004468.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

    Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 19/12/2023, tại trước nhà số E+E24 đường L, phường I, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, lực lượng Biên phòng B, Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh B, phát hiện bắt quả tang Hà Thanh T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1838 gam, là ma túy, loại methamphetamine. T tàng trữ số ma túy này nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

    Như vậy, hành vi Hà Thanh T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

    Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  3. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

  4. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

    • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

  5. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không có khả năng thi hành án phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  6. Về xử lý vật chứng:

    • Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong 01 gói niêm phong số 32 ngày 22/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B) là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

    • 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi (imei 1: 866616051000145/78, imei 2: 866616051000152/78) của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo;

    • 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha loại Mio, biển số: 72K6-4884, số khung: RLCM5WP905Y004468, số máy: 5WP9-004468 là của bà Nguyễn Thị Ngọc D (mẹ bị cáo), bà D cho bị cáo mượn xe và không biết bị cáo sử dụng để đi phạm tội nên trả lại cho bà D.

  7. Đối với người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) là người bán ma túy cho T, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T tiếp tục xác minh, truy bắt để xử lý theo quy định pháp luật.

  8. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  2. Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:

    - Xử phạt: Bị cáo Hà Thanh T: 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2023;

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    • Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong 01 gói niêm phong số 32 ngày 22/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B);

    • Trả lại cho bị cáo Hà Thanh T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi (imei 1: 866616051000145/78, imei 2: 866616051000152/78);

    • Trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc D: 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha loại Mio, biển số: 72K6-4884, số khung: RLCM5WP905Y004468, số máy: 5WP9-004468.

    Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 169/BB - CCTHADS ngày 22/4/2024.

  4. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Thanh Tùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger