Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/HS-PT

Ngày: 22 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Tú

Các Thẩm phán: 1. Ông Văn Công Dần

2. Ông Y Phi Kbuôr

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 136/2024/TLPT-HS, ngày 11/7/2024 đối với bị cáo Huỳnh Thị P về tội “Đánh bạc”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thị P, sinh ngày 11/8/1979 tỉnh Khánh Hoà; Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Đ, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955; Bị cáo có chồng là Nguyễn Đắc N, sinh năm 1977 và có 03 con; Lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/02/2024 đến ngày 02/3/2024, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Đắc N, Trương Thị Thu H, Võ Thị Q và Nguyễn Đình T không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1

1. Ông Hà Văn P1, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.

2. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Buôn Mlốc A, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 02/2024, Huỳnh Thị P bàn bạc với Nguyễn Đắc N (chồng của P) cùng nhau đến huyện M'Đrắk bán vé số sẽ nhận ghi số đề được thua bằng tiền cho người chơi đặt cược dựa trên kết quả xổ số của đài miền T và đài miền B mở thưởng trong ngày, nếu người chơi thua cược thì P và N sẽ được hưởng hết số tiền mà người chơi đã đặt, còn nếu người chơi thắng cược thì P và N phải tự trả tiền thắng cược cho người chơi. Hàng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 79H1-410.20 chở P từ thị xã N đến huyện M'Đrắk, P bán vé số và ghi số đề cho khách, đến cuối ngày N đến chở P về.

P sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1820, gắn thẻ sim số 0931.602.987 của P và đăng nhập vào tài khoản Zalo của P có tên “Kiều” để nhận ghi đề cho người chơi. Người chơi có thể gọi điện thoại hoặc nhắn tin vào số điện thoại 0931.602.xxx, tài khoản Zalo có tên “Kiều”, hoặc trực tiếp gặp P để đặt cược, P sẽ dùng 01 cuốn sổ nhỏ để ghi lại tờ “phơi” đặt cược cho khách. Sau khi ghi đề cho người chơi, P và N cùng nhau tổng hợp lại số tiền chơi và các kèo đặt cược của người chơi ghi trong ngày ghi ra 01 tờ giấy để tính toán tiền thắng thua với người chơi. Việc thanh toán tiền chơi đề có thể gặp trực tiếp để thanh toán hoặc thông qua tài khoản ngân hàng B số 6321091784 của P. Với hình thức người chơi ghi đề trực tiếp ghi bằng tờ “phơi” thì P nhận tiền đặt cược của người chơi ngay tại thời điểm người chơi ghi đề, rồi P đưa tờ “phơi” ghi đề cho người chơi, sau khi có kết quả xổ số nếu người chơi thắng cược sẽ đem tờ “phơi” đến gặp P để nhận tiền thắng.

Quá trình ghi số đề, P quen biết với Trương Thị Thu H do P thường bán vé số nơi H làm việc. P và H thỏa thuận nếu P có nhu cầu ghi số đề hoặc nhận ghi số đề của người chơi thì P chuyển đến cho H để H cá cược ăn thua với người chơi, còn P sẽ nhận được tiền “hoa hồng” (tức tiền công ghi đề). Hai bên thoả thuận cứ 1.000.000đồng tiền đặt cược số đề mà P chuyển đến cho H thì P sẽ nhận được 64.000đồng tiền “hoa hồng”. H cho P số điện thoại 0896.139.xxx và tài khoản Zalo “Thanh Hằng” để P liên lạc ghi số đề với H. P và N thống nhất với nhau nếu người chơi ghi đề trong ngày cho P và N mà số tiền cược vượt quá khả năng chi trả thì sẽ chuyển một phần số đề đã nhận đặt cược của người chơi cho H để H tự cá cược với

2

người chơi, còn P và N sẽ nhận được tiền “hoa hồng” như thoả thuận trên. Trường hợp các số đề của người chơi được P và N chuyển cho H, H tính toán tiền thắng, thua cho P, sau đó P và N tính toán với người chơi.

Với cách thức như trên, ngày 21/02/2024, P và N đã cùng nhau nhận ghi số đề được, thua bằng tiền cho một số người chơi dựa trên kết quả xổ số đài miền T (tỉnh Khánh Hòa) và đài xổ số miền B mở thưởng trong ngày 21/02/2024 cụ thể như sau:

- Đối với Trần Thị T1:

  • + Vào lúc 15 giờ 50 phút ngày 21/02/2024, T1 sử dụng số điện thoại 0976.720.xxx gọi vào số điện thoại của P để ghi đề đặt cược bao lô các số “01” và “10” của đài xổ số miền T, mỗi lô 50 điểm, tổng tiền cược 1.300.000đồng. Kết quả, bà T1 thắng cược 3.500.000 đồng do trúng 01 lô cửa bao lô số “01” giải 8 của xổ số Khánh Hòa. Tổng số tiền mà bà T1 và P đã dùng để đánh bạc đối với kèo cược này là mỗi người 4.800.000đồng.
  • + Lúc 17 giờ 28 phút cùng ngày, với thương thức trên, T1 gọi điện thoại đặt cược với P đài xổ số miền B kèo bao lô các số “01” và “10” mỗi lô 50 điểm với số tiền là 2.100.000đồng; đặt cược cửa “Xiên” các cặp số “01-10” và “87-78”, tổng cộng 04 điểm, số tiền cược là 168.000 đồng. Kết quả, bà T1 không trúng cược. Tổng số tiền bà T1 và P đã dùng để đánh bạc đối với kèo cược này là mỗi người 2.268.000 đồng.

Bà T1 và P đã thanh toán tiền thắng, thua đối với cả 02 đài xổ số trên.

- Đối với ông Hà Văn P1:

  • + Lúc 16 giờ 15 phút ngày 21/02/2024, ông P1 sử dụng tài khoản Zalo “Hà Văn P1” đăng nhập bằng số điện thoại 0984.461.xxx nhắn tin cho P qua tài khoản Zalo “Kiều” nội dung đặt cược cửa bao lô“45, 46 mỗi con 20k” với tổng số tiền đặt cược là 520.000 đồng. Kết quả, P1 thắng cược 1.400.000 đồng do trúng số “46” tại giải 2 của kết quả xổ số Khánh Hoà. Tổng số tiền mà P và ông P1 đã sử dụng để đánh bạc đối với kèo cược này là mỗi người 1.920.000 đồng.
  • + Lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày, ông P1 nhắn tin cho P nội dung đặt cửa “87 65 mỗi con 20k xiên 5k” tổng số tiền đặt cược là 1.050.000 đồng. Kết quả, P1 thắng cược 1.400.000 đồng do trúng cược 01 lô số “87” tại giải 2 của kết quả xổ số miền B ngày 21/02/2024. Tổng số tiền mà P và ông P1 đã sử dụng để đánh bạc đối với kèo cược này là mỗi người 2.450.000 đồng.

P và ông P1 đã thanh toán hết toàn bộ số tiền đánh bạc của 02 đài xổ số trên với nhau.

3

- Đối với Nguyễn Đình T:

  • + Lúc 16 giờ 51 phút ngày 21/02/2024, T sử dụng tài khoản Zalo “Thế Ngọc” đăng nhập bằng số điện thoại “0816.131.xxx” của T nhắn tin vào tài khoản Z “Kiều” của P để đặt cược kèo bao lô “lô 17x30” với 390.000đồng tiền cược của Đài xổ số miền T. Kết quả, T thắng cược số tiền 2.100.000đồng vì trúng 01 lô số “17” tại giải 6 của xổ số tỉnh Khánh Hoà. Tổng số tiền mà P và T đã sử dụng để đánh bạc đối với kèo cược này là mỗi người 2.490.000 đồng.
  • +Lúc 17 giờ 28 phút cùng ngày, T nhắn tin qua Zalo cho P nội dung cược kèo X “đá 52-36x10” với 420.000đồng tiền cược của đài xổ số miền B mở thưởng ngày 21/02/2024. Kết quả, T đã thắng cược 6.000.000 đồng vì trúng lô số “52-36” xuất hiện tại giải 2 và giải 5 của kết quả xổ số miền B ngày 21/02/2024. Tổng số tiền mà P và T đã sử dụng để đánh bạc đối với kèo cược này là mỗi người 6.420.000đồng.

P đã trả cho T 6.000.000 đồng tiền thắng cược, số tiền 1.290.000đồng còn lại, P chưa thanh toán cho T.

- Đối với bà Võ Thị Q:

  • + Lúc 16 giờ 07 phút ngày 21/02/2024, Quyền sử dụng tài khoản Z “Quyền” nhắn tin cho P với nội dung “87.*100₫ 38*50₫ blo trung” để đặt cược số đề với P đài miền T. P và N chỉ đồng ý nhận cho Q kèo bao lô con số “87” và “38” mỗi lô 50 điểm, nên P nhắn lại là “nhận lô 50 thôi chứ ko có tiền chuyển” với tổng số tiền cược là 1.800.000 đồng. Kết quả, Quyền thắng số tiền 18.200.000đồng nhờ đánh trúng lô số “87” xuất hiện trong giải Nhất, giải 3, giải 4 và lô số “38” xuất hiện trong giải 3 của đài xổ số K. Tổng số tiền mà P và Q đã sử dụng để đánh bạc đối với kèo cược này mỗi người 20.000.000đồng.
  • + Vào lúc 18 giờ 02 phút cùng ngày, Quyền nhắn tin qua Zalo cho P để ghi đề đài miền B với nội dung “87*51 blo 20 điểm” số tiền là 1.080.000đồng. Kết quả, Quyền thắng được số tiền là 3.640.000đồng nhờ đánh trúng lô số “87” xuất hiện trong giải 2 và lô số “51” trong giải 6 của kết quả xổ số miền B. Tổng số tiền mà P và Q đã sử dụng để đánh bạc đối với kèo cược này là mỗi người 4.720.000đồng.

P đã thanh toán cho Q 16.960.000đồng tiền thắng cược, 2.000.000đồng chưa thanh toán.

- Ngoài ra, trong ngày 21/02/2024, P còn nhận ghi số đề trực tiếp cho một số người chơi khác (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) vào tờ phơi với tổng số tiền ghi đề là 405.000đồng của đài xổ số miền T2 nhưng không có kèo cược nào

4

trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc của P đối với các kèo cược này là 405.000đồng, P đã nhận đủ tiền trực tiếp của người chơi.

Sau khi nhận cược các kèo cược của những người chơi trên, P và N đã cùng nhau tổng hợp và tính toán lại, sau đó P và N đã chuyển một số kèo cược cho H để H cá cược với người chơi. P ghi chép các kèo cược chuyển cho H ra một tờ giấy rồi dùng điện thoại di động chụp hình nội dung các kèo cược này và gửi cho H qua Zalo, H đều đồng ý nhận cược đối với tất cả các kèo cược này. Cụ thể, H đã nhận cược của P và N các kèo cược sau:

  • - Đài xổ số miền T: P và N đã chuyển 445 điểm cược tương ứng với 1.125.000đồng tiền cược cho H (P nhận được 72.000đồng tiền “hoa hồng” từ H) gồm các kèo cược của những người chơi chưa xác định được nhân thân, lai lịch là 405.000đồng, kèo cược của bà T1 20 điểm tương ứng với 360.000đồng và chị Q 20 điểm tương ứng với 360.000đồng. Kết quả, các kèo đặt cược mà P và N đã chuyển cho H nêu trên trúng cược được số tiền 4.550.000đồng. Tổng số tiền đánh bạc xổ số đài miền T của H với P mỗi người 5.675.000đồng.
  • - Đài xổ số miền B: P và N đã chuyển cho H tổng cộng 104 điểm cược tương ứng số tiền cược là 2.142.000đồng (P nhận được 137.000đồng tiền “hoa hồng” từ H), trong đó có 102 điểm cược là các kèo cược của anh T, chị T1 và ông P1, đồng thời P ghi thêm cho riêng P 02 điểm kèo đá “Xiên” số “87 - 78” tương ứng với 84.000đồng để P tự cá cược với H. Kết quả, các kèo đặt cược mà P và N chuyển cho H nêu trên trúng cược số tiền 6.000.000đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài xổ số miền B của H với P mỗi người 8.142.000đồng.

Sau khi H tự tính toán tiền đặt cược, tiền trúng cược và tiền hoa hồng đối với các kèo cược P chuyển cho H thì H đã chuyển trả đủ cho P số tiền trúng cược là 7.515.000đồng để P trả cho người chơi đã đặt cược.

Các kèo cược P không chuyển cho H còn lại, P và N giữ lại để tự cá cược với người chơi, cụ thể: Tại đài miền T tổng 230 điểm tương ứng với số tiền cược là 2.990.000đồng (gồm các kèo cược của T1, Q, T và P1). Kết quả, người chơi trúng cược với số tiền 20.650.000đồng; Đối với đài xổ số miền B, P và N giữ lại 120 điểm tương ứng với 2.760.000đồng gồm các kèo cược của T1, P1 và Q. Kết quả, người chơi trúng cược với số tiền 5.040.000 đồng.

Trong ngày 21/02/2024, tổng số tiền mà P và N đã sử dụng để đánh bạc với những người chơi nêu trên dưới hình thức ghi số đề cụ thể là:

  • - Đối với đài xổ số miền T: Tổng tiền cược 4.415.000 đồng, tiền trúng cược là 25.200.000đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 29.615.000 đồng.

5

  • Đối với đài xổ số miền B: Tổng tiền cược là 4.902.000đồng, tiền trúng cược là 11.040.000đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 15.942.000đồng.

Ngày 22/02/2024, Công an huyện M'Đrắk triệu tập Huỳnh Thị P, Nguyễn Đắc N làm việc, N và P đã thừa nhận về toàn bộ hành vi phạm tội đánh bạc dưới hình thức ghi số đề, đồng thời tự nguyện giao nộp các công cụ, tang vật và tài liệu liên quan đến việc ghi số đề. Quá trình điều tra, Nguyễn Đình T, Võ Thị Q và Trương Thị Thu H đã đến Công an huyện M'Đrắk để đầu thú.

* Vật chứng thu giữ, tạm giữ:

  • - Tạm giữ của Huỳnh Thị P: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1820 gắn 01 thẻ sim số 0931602987; 01 tờ giấy kẻ ô li có ghi phơi đề ngày 21/02/2024; 02 tệp giấy được đóng gim bên trong là giấy trắng, không có nội dung gì; Số tiền 2.528.000đồng; 01 xe mô tô 2 bánh Biển kiểm soát (BKS) 79H1- 410.20, nhãn hiệu Yamaha; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 005090 do Công an thị xã N cấp ngày 12/11/2015 cho xe mô tô biển số 79H1- 410.20 tên chủ xe Nguyễn X.
  • - Tạm giữ của Nguyễn Đình T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Plus, kèm 01 thẻ sim số 0816131119.
  • - Tạm giữ của Trương Thị Thu H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A535G, kèm sim điện thoại số 0896.139.xxx.
  • - Tạm giữ của Hà Văn P1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, kèm sim điện thoại số 0984.461.xxx và số 0914482372.
  • - Tạm giữ của Trần Thị T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Hona K7, kèm sim điện thoại số 0976.720.xxx.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk đã quyết định.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị P phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị P 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/02/2024 đến ngày 02/3/2024 .

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác; T3 về xử lý vật chứng, về án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/6/2024 bị cáo Huỳnh Thị P có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

6

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Thị P vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận ngày 21/02/2024 bị cáo có tham gia đánh bạc với một số người bằng hình thức ghi lô đề. Ngày 22/02/2024 bị cáo bị cơ quan điều tra Công an huyện M'Đrăk mời lên làm việc, trong quá trình làm việc bị cáo đã khai nhận toàn bộ những lần tham gia với các con bạc khác về hành vi ghi lô đề của mình.

Quá trình tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Thị P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 09 tháng mà Toà án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị P, giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng, xin được giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được tự cải tạo ở ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/02/2024, trên địa bàn huyện huyện M'Đrắk bị cáo Huỳnh Thị P đã thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề với Võ Thị Q với số tiền đánh bạc đài miền T 20.000.000 đồng và đài miền Bắc 4.720.000 đồng; Nguyễn Đình T với số tiền đánh bạc đài Miền T4 là 2.490.000 đồng và đài miền Bắc 6.420.000 đồng; Trần Thị T1 với số tiền đánh bạc đài Miền Trung 4.800.000 đồng và đài M2 2.268.000 đồng; Hà Văn P1 với số tiền đánh bạc đài Miền Trung 1.920.000 đồng và đài Miền Bắc 2.450.000 đồng. Ngoài ra, P còn trực tiếp đánh bạc với Trương Thị Thu H với số tiền đánh bạc đài Miền T4 là 5.675.000 đồng và đài Miền Bắc 8.142.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã dùng để đánh bạc đài Miền T4 là 29.615.000 đồng và đài miền Bắc 15.942.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm

7

tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo không bị bắt quả tang, tuy nhiên khi được Cơ quan điều tra mời về làm việc bị cáo đã chủ động khai nhận các lần đánh bạc với các con bạc khác. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s (thành khẩn khai báo) mà không cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r (người phạm tội tự thú) được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thiếu sót. Tuy nhiên, mức hình phạt 09 tháng tù mà Toà án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận.

Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo: Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải về hình vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo thuộc thành phần có công với cách mạng (gia đình liệt sĩ), hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương). Xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt. Vì vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm về biện pháp chấp hình phạt.

[3] Về án phí: Do được chấp nhận một phần kháng cáo nên bị cáo Huỳnh Thị P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị P - Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk về biện pháp chấp hành hình phạt.

8

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị P 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Huỳnh Thị P cho Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc theo dõi, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Huỳnh Thị P cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

[2]. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Huỳnh Thị P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Lắk;
  • - Văn phòng CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND huyện M'Đrắk;
  • - VKSND huyện M'Đrắk;
  • - Công an Tx. N, tỉnh Khánh Hoà;
  • - Chi cục THADS huyện M'Đrắk;
  • - UBND xã N, Tx. N, tỉnh Khánh Hoà;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Tú

9

  • - Những người TGTT;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 149/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 21/02/2024, trên địa bàn huyện huyện M’Đrắk bị cáo Huỳnh Thị P đã thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề với Võ Thị Q với số tiền đánh bạc đài miền T 20.000.000 đồng và đài miền Bắc 4.720.000 đồng; Nguyễn Đình T với số tiền đánh bạc đài Miền T4 là 2.490.000 đồng và đài miền Bắc 6.420.000 đồng; Trần Thị T1 với số tiền đánh bạc đài Miền Trung 4.800.000 đồng và đài M2 2.268.000 đồng; Hà Văn P1 với số tiền đánh bạc đài Miền Trung 1.920.000 đồng và đài Miền Bắc 2.450.000 đồng. Ngoài ra, P còn trực tiếp đánh bạc với Trương Thị Thu H với số tiền đánh bạc đài Miền T4 là 5.675.000 đồng và đài Miền Bắc 8.142.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã dùng để đánh bạc đài Miền T4 là 29.615.000 đồng và đài miền Bắc 15.942.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger