Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 149/2025/HS-PT

Ngày: 10 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2025, Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lưu động vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 1164/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1954; có vợ là Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn) và 02 con;

Tiền án: 02 tiền án, tại Bản án số 83/2009/HS-ST, ngày 02-4-2009 bị Toà án nhân dân huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 08 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 15 năm tù (ngày 14-9-2020 chấp hành xong hình phạt), tại Bản án số 117/2021/HS-ST ngày 16-11-2021 bị Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” (ngày 29-10-2023 chấp hành xong hình phạt); tiền sự: không;

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24-5-2024 đến nay (bị cáo có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma túy. Thông qua mối quan hệ xã hội, vào tháng 3/2024 Đ được đối tượng sử dụng ID Zalo “Mạnh Chiến” ở huyện N, tỉnh Nghệ An cho một gói ma túy (loại Heroin) để Đ sử dụng. Ngày 23/5/2024, Đ bỏ gói ma túy vào ba lô đi từ tỉnh Nghệ An đón xe khách đến tỉnh Bình Dương thăm bạn gái là Trần Thị T, sinh năm 1990, cư trú tại số nhà B Đại lộ T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại đây Đ gặp đối tượng tên “Nhiên” là đối tượng chấp hành án cùng với Đ và được “N” cho một gói ma túy đá để Đ sử dụng.

Sáng ngày 24/5/2024 Đ gọi điện con gái là Nguyễn Thị Thu H2 (sinh ngày 15/4/2001) đang sinh sống ở thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đến thành phố T, tỉnh Bình Dương để cùng Đ đón xe khách đi thăm cháu họ của Đ là Nguyễn Thanh L (trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông). Khoảng 16 giờ ngày 24/5/2024, khi xe đi đến cây xăng số D thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì Đ bị lực lượng Công an tỉnh Đ phát hiện và bắt quả tang, thu giữ 01 balo màu xanh đen, bên trong có các túi Zipper chứa các chất tinh thể màu trắng và chất rắn màu trắng (nghi là ma túy); thu giữ trong túi quần Jean bên trái phía trước mà Đ đang mặc 01 túi zipper màu trong suốt bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) và một số vật dụng khác.

Tại Kết luận giám định số 232/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • - Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 tui zipper trong suốt, chỉ màu đỏ, kích thước (09x15x09)cm được niêm phong trong bì thư có ghi số 01 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 87,0287 gam.
  • - Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 02 túi zipper trong suốt, có cùng kích thước (04x07x04)cm được niêm phong trong bì thư có ghi số 02 gửi giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu lần lượt là 6,0966 gam và 3,0087 gam.
  • - Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc được niêm phong trong bì thư có ghi “số 02” gửi giám định là ma túy; loại Heroine, có khối lượng mẫu là 0,1503 gam.
  • - Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi zipper trong suốt, kích thước (03x03x03)cm được niêm phong trong bì thư có ghi số 03 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,4325 gam.

Tổng khối lượng các chất ma túy là: 96,71gam (96,5665 gam Mthamphetamine +0,1503gam H).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2024,

Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Đ 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn chấp hành án tính từ ngày 24-5-2024.

Ngoài ra, bản án còn quy định về xử lý vật chứng và án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 19/11/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông. Nội dung cho rằng số lượng ma túy (96,134 gam) thu trong ba lô hành lý không phải là của bị cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Mặc dù bị cáo không thừa nhận số lượng ma túy 96,134 gam bị thu giữ là của bị cáo, tuy nhiên quá trình điều tra đã đủ chứng cứ chứng minh là của bị cáo và mức phạt 14 năm tù mà Tòa sơ thẩm đã áp dụng là tương xứng. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, thấy rằng:

Mặc dù quá trình điều tra và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Đ chỉ thừa nhận hành vi tàng trữ đối với 0,5828 gam Methamphetamine và 0,153 gam Heroin. Còn đối với số ma tuý 96,134 gam còn lại bị cáo cho rằng không biết ở đâu mà có trong balô của bị cáo. Thấy rằng, việc bị cáo khai không biết là không có sở chấp nhận bởi lẽ:

  • - Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang chính bị cáo thừa nhận những đồ vật thu giữ trên người và ba lô của bị cáo là của bị cáo (những đồ vật cơ quan điều tra thu giữ nghi là ma tuý loại Heroine và dạng đá; bút lục số 15,16).
  • - Tại Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu (bút lục số 8), bị cáo đã ký vào các biên bản này và không có ý kiến gì khác.
  • - Các biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung bị can có sự tham gia của Kiểm sát viên, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và toàn bộ số ma tuý là của bị cáo đều được cơ quan điều tra thu giữ và niêm phong theo quy định và ký tên xác nhận (bút lục số 106-111; 114-119).
  • - Các biên bản giao nhận Kết luận điều tra và Cáo trạng thì bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì.

Do đó, có đủ chứng cứ, chứng minh: số lượng ma túy tổng cộng 96,71gam bị lực lượng Công an tỉnh Đ phát hiện và bắt quả tang, thu giữ vào khoảng 16 giờ ngày 24/5/2024, đoạn cây xăng số D thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là của bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Quốc Đ1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ. Đồng thời xử phạt bị cáo 14 năm tù; tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[2]. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.

[4]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn Đ 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24-5-2024.
  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Đắk Nông (2);
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông (1);
  • - Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Đắk Nông (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Nông (3);
  • - Lưu VP, HS.16b.ĐLN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2025/HS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 149/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của Toà án nhân dân tỉnh N.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger