|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 149/2024/HS-ST
Ngày 29-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn
Bà Vũ Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/TLST - HS, ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lãnh Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1993 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Lãnh Văn T, sinh năm 1966 và con bà Trần Thị H, sinh năm 1967. Bị cáo chưa có vợ, con.
Nhân thân: Bản án số 47/2015/HSST ngày 21/7/2015, Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Vận chuyển, buôn bán hàng cấm”. Ngày 13/10/2017, Đ chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong phần án phí ngày 15/9/2015.
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: Bản án số 51/2023/HSST ngày 26/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Lãnh Văn Đ 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 08/4/2024, Đ chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/9/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Ông Ngô Văn T1, sinh năm 1977 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nông Văn Đ1, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Ông Nông Văn Đ2, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lãnh Văn Đ, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang là đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Khoảng 19 giờ ngày 31/8/2024, Đ đang đi bộ ở đường bê tông thuộc thôn T, xã B, huyện L thì gặp anh Nông Văn Đ1, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã K, huyện L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98E1-145.72 đi đến. Do có mối quan hệ quen biết từ trước nên Đ gọi Đ1 dừng lại nói chuyện. Quá trình nói chuyện, Đ rủ Đ1 đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu sài cá nhân, Đ1 đồng ý.
Đông chỉ đường để Đ1 điều khiển xe mô tô chở Đ đến vườn trồng cây hồng (loại hồng nhân hậu) của gia đình ông Trần Văn L, sinh năm 1965, trú tại thôn P, xã B, huyện L để trộm cắp quả hồng. Vườn hồng trên trước đó đã được anh Ngô Văn T1, sinh năm 1977, trú tại thôn B, xã B, huyện L mua để chăm sóc, thu hoạch quả. Đ1 dựng xe ở lề đường cách vườn hồng khoảng 50m rồi cùng Đ đi bộ vào vườn. Trên đường đi vào vườn, Đ có nhặt được 03 bao tải dứa màu trắng ở rìa đường cầm theo với mục đích để đựng quả hồng. Khi vào trong vườn, Đ và Đ1 quan sát thấy không có người trông coi nên dùng tay hái trộm quả hồng đang trong giai đoạn thu hoạch ở 03 cây hồng trong vườn và đựng vào trong 03 bao tải dứa mang theo.
Đ1 ra lấy xe mô tô điều khiển xe đi vào trong sân nhà ông L, còn Đ lần lượt bê 03 bao tải đựng quả hồng vừa trộm cắp được vào sân nhà ông L. Đông bê 01 bao để phía trước xe, 02 bao để phía sau xe rồi Đ ngồi phía sau cùng ôm giữ 02 bao tải đựng quả hồng để Đ1 điều khiển xe đi hướng ra thôn B, xã B, huyện L tìm chỗ tiêu thụ. Do đã muộn không có ai mua nên Đ1 và Đ chở 03 bao tải đựng quả hồng đã trộm cắp được đến một nhà hoang tại thôn T, xã B, huyện L cất giấu, xong cả hai đi về nhà ngủ.
Đến sáng 01/9/2024, do nhận thấy hành vi của bản thân là sai nên Đ và Đ1 đã đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú và tự nguyện giao nộp 03 bao tải dứa đựng quả hồng, loại hồng nhân hậu, có tổng khối lượng 69kg và 01 xe mô tô nhãn hiệu honda, loại xe Wave s, biển kiểm soát 98E1-145.72.
Cùng ngày 01/9/2024, anh Ngô Văn T1 làm đơn trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L. Cùng ngày 01/9/2024, Cơ quan điều tra đã bàn giao lại toàn bộ 69kg quả hồng do Đ, Đ1 trộm cắp cho anh Ngô Văn T1.
Ngày 03/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra yêu cầu định giá đối với 69kg quả hồng do Đ và Đ1 trộm cắp. Tại kết luận định giá tài sản số 98/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 69kg quả hồng, loại quả hồng nhân hậu, đang trong giai đoạn thu hoạch trị giá: 1.725.000 đồng (Một triệu bẩy trăm hai mươi năm nghìn đồng chẵn).
Vật chứng vụ án: 03 bao tải dứa màu trắng được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.
Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 149/CT-VKS-LNg ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lãnh Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lãnh Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Bị hại là anh Ngô Văn T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015,
Xử phạt bị cáo Lãnh Văn Đ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 bao tải dứa màu trắng.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo cáo Lãnh Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Những người này đã có lời khai rõ ràng tại cơ quan điều tra, đã có đơn xin xét xử vắng mặt và không ai có yêu cầu gì, xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về căn cứ xác định bị cáo có tội Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận:
Lãnh Văn Đ, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang là đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Khoảng hơn 19 giờ ngày 31/8/2024, tại vườn trồng cây hồng ở thôn P, xã B, huyện L, Đ đã có hành vi trộm cắp 69kg quả hồng, loại quả hồng nhân hậu, đang trong giai đoạn thu hoạch, trị giá 1.725.000đ của anh Ngô Văn T1, sinh năm 1977, trú tại thôn B, xã B, huyện L với mục đích mang đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Ngày 01/9/2024, Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp lại toàn bộ 69 kg quả hồng đã trộm cắp nêu trên.
Bị cáo Lãnh Văn Đ là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, muốn có tiền bằng con đường bất chính nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, VKSND huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó việc áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo là cần thiết để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội ra đầu thú nên HĐXX thấy cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy: Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương; bản thân bị cáo đã có nhân thân về tội “Vận chuyển, buôn bán hàng cấm” và tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đây là bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Đối với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra, HĐXX thấy mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp so với hành vi của bị cáo thực hiện.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 173 để phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Văn T1 không có đề nghị bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về vật chứng:
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98E1-145.72 xác định là xe của ông Nông Văn Đ2, sinh năm 1976, trú tại thôn Đ, xã K, huyện L (là bố của Nông Văn Đ1). Ông Đ2 không biết việc Đ1 sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý đối với ông Đ2. Ngày 23/10/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng, trả lại cho ông Nông Văn Đ2 theo quy định là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với 69kg quả hồng do Đ, Đ1 trộm cắp. ngày 01/9/2024 Cơ quan điều tra đã bàn giao lại cho anh Ngô Văn T1 và anh T1 không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với 03 bao tải dứa màu trắng Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên HĐXX cần áp dụng Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.
[8] Về xử lý trách nhiệm đối với Nông Văn Đ1: Quá trình điều tra xác định Đ1 chưa có tiền án tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản Đ1 trộm cắp cùng Đ là 1.725.000đ, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên ngày 23/10/2024 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ1 về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 2.500.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án
[10] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015,
Xử phạt bị cáo Lãnh Văn Đ 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 03 bao tải dứa màu trắng.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo cáo Lãnh Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Công Định |
Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 149/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đ phạm tội....
