TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
Bản án số: 149/2024/HS-ST.
Ngày: 25-11-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Ngọc Đững
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Trần Ánh Nhạn - Cán bộ hưu trí.
Bà Phan Thị Anh Thư - Cán bộ Huyện Đoàn Gò Dầu.
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Vinh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 143/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn T, tên gọi khác: không có; sinh năm 1996, tại tỉnh Tây Ninh.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: Quyết định số 82 ngày 27/8/2022 của Trưởng Công an thị trấn G, huyện G đã xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị tạm giam ngày 29/7/2024 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Cháu Phạm Gia H, sinh ngày 12/12/2008; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Gia H: Ông Ngô Thanh L, sinh năm 1981; hộ khẩu thường trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở hiện nay: Ấp F, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là cha ruột của bị hại; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Thanh L: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Phạm Gia H: Ông Lê Minh H1 - Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng tháng 5/2023, thông qua mối quan hệ xã hội, Nguyễn Tấn T, sinh năm 1996, ngụ khu phố T, thị trấn G, huyện G quen biết và nảy sinh tình cảm yêu thương với cháu Phạm Gia H, sinh ngày 12/12/2008, ngụ ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Từ giữa tháng 6/2023 đến ngày 08/12/2023, T giao cấu với cháu H 18 lần, tất cả các lần giao cấu cháu H đều tự nguyện, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng giữa tháng 6/2023, T giao cấu với H 01 lần tại nhà trọ của anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1984, ngụ ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Lần 2: Cách lần thứ nhất 05 ngày, T tiếp tục giao cấu với H 01 lần tại nhà trọ của anh Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1984, ngụ ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Lần 3: Khoảng giữa tháng 7/2023, T giao cấu với cháu H 01 lần tại nhà nghỉ H2 thuộc khu phố R, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Lần 4: Khoảng tháng 8/2023, T giao cấu với cháu H 02 lần tại nhà của anh Trần Thế V1, ngụ ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Lần 5: Khoảng tháng 10/2023 đến đầu tháng 11/2023, T giao cấu với cháu H 10 lần tại nhà của cháu H thuộc ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Lần 6: Khoảng giữa tháng 11/2023 đến ngày 08/12/2023, T giao cấu với cháu H 03 lần tại nhà của T thuộc khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Đến ngày 14/4/2024, cháu H sinh 01 bé gái tại Bệnh viện Từ Dũ Thành phố H.
Quá trình điều tra, T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Tại Bản Kết luận giám định số 3996 ngày 02/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Phạm Gia H tại thời điểm giám định tháng 6/2024 có độ tuổi từ 16 năm đến 16 năm 06 tháng.
Tại Bản Kết luận giám định số 5088 ngày 13/9/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Phạm Gia H với bé gái sinh ra có quan hệ huyết thống mẹ-con; Nguyễn Tấn T và bé gái con đẻ của Phạm Gia H không có quan hệ huyết thống cha-con. Kết quả làm việc cháu H thừa nhận còn có giao cấu với người khác.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Không thu giữ vật chứng.
Về trách nhiệm dân sự: Cháu H cùng gia đình không yêu cầu bồi thường và làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Tấn T. Về kê biên tài sản: Do bị can Nguyễn Tấn T không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G không kê biên.
Quá trình điều tra, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Cáo trạng số: 147/CT-VKSGD ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã truy tố Nguyễn Tấn T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng số 147/CT-VKSGD ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T mức án từ 04 năm đến 05 năm. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào khoảng tháng 6/2023 đến ngày 08/12/2023, tại huyện G, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Tấn T là người đủ 18 tuổi thực hiện hành vi giao cấu với cháu Phạm Gia H tổng cộng 18 lần. Khi T thực hiện hành vi giao cấu lần đầu với cháu H thì cháu H được 14 tuổi 11 tháng 27 ngày.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ.
- Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ nên bị cáo phải chịu
trách nhiệm hình sự. Cụ thể, bị cáo lợi dụng sự non dại, chưa nhận thức được giới hạn tình cảm nam, nữ; mục đích của bị cáo nhằm thỏa mãn nhu cầu dục vọng cá nhân. Hậu quả hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường của cháu H ở độ tuổi trẻ em mà pháp luật quy định. Gây tổn thương sức khỏe, ảnh hưởng xấu đến danh dự cháu H, gây tổn thương tinh thần cho cháu H. Vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét mức đề nghị xử phạt hình phạt tù của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Người đại diện hợp pháp của bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo mức án như Viện Kiểm sát đã đề nghị. Bởi vì, bị cáo biết rõ bị hại chưa đủ 16 tuổi nhưng bị cáo lợi dụng sự non dại của bị hại nhằm mục đích thỏa mãn dục vọng cá nhân. Xét thấy, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại phù hợp với mức hình phạt như Viện kiểm sát đã đề nghị nên có cơ sở chấp nhận.
- Về xử lý vật chứng: Do không thu giữ vật chứng nên không đặt ra giải quyết.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam ngày 29/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Không có.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Tấn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Báo cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Tây Ninh;
- - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh;
- - VKSND tỉnh Tây Ninh;
- - VKSND huyện Gò Dầu;
- - Phòng PV06 CA tỉnh Tây Ninh;
- - Công an huyện Gò Dầu;
- - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
- - Chi cục THADS huyện Gò Dầu;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Lưu hồ sơ;
- - Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Đững |
Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 149/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN TẤN T
