Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:149/2024/HS-ST

Ngày 20-11-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Chính

Bà Trần Thị Trúc Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 154/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 167/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Duy L, sinh ngày 27 tháng 04 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: SỐ A L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện tại: Số H K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy C và bà Lê Thị B; có vợ là Trần Mỹ L1, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/7/2024, chuyển tạm giam ngày 26/7/2024; có mặt.
  2. Hoàng Văn S, sinh ngày 06 tháng 05 năm 1993 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số E L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện tại: Lô D Khúc T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn G và bà Trần Thị Thu H; có vợ là Vũ Thị Tuyết C1, có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: Có 01 tiền án: Bản án số 39/2023/HS-ST ngày 18/4/2023 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (chưa xoá án tích); Tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/7/2024, chuyển tạm giam ngày 26/7/2024; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Duy C, sinh năm 1959, nơi ĐKHKTT: SỐ A L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; Nơi ở hiện tại: Số H K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 20/7/2024, Nguyễn Duy L đi xe mô tô biển kiểm soát 15AP – 035.88 đến gần trường Đại học D thì gặp Hoàng Văn S. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, L và S rủ nhau góp tiền mua ma túy sử dụng, S góp 500.000 đồng và L góp 200.000 đồng. L đi xe mô tô chở S đến khu vực đường T thuộc quận L, thành phố Hải Phòng để mua ma túy. Tại đây, L và S gặp rồi hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá của một người đàn ông không quen biết. Người đàn ông này nhận tiền rồi đưa cho L 01 túi nilon chứa ma túy. L cất giấu số ma túy trên vào túi quần bên phải phía trước của L. Sau đó, L đi xe mô tô chở S đi tìm địa điểm sử dụng ma túy. Khoảng 15 giờ cùng ngày, L và S đi đến trước cửa số nhà B đường P thuộc phường L, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị Công an phường L kiểm tra phát hiện thu giữ tại túi quần bên phải phía trước của L 01 túi nilon (kích thước 07x4cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của L 01 xe mô tô Honda, biển kiểm soát 15AP – 035.88.

Tại bản Kết luận giám định số 904/KL - KTHS ngày 25/7/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,33 gam, loại Methamphetamine”.

Xét nghiệm chất ma túy, L và S đều dương tính với test thử chất ma túy Methamphetamine.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Duy L ở số H đường K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng và Hoàng Văn S ở lô D đường K, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.

Quá trình điều tra, Nguyễn Duy L và Hoàng Văn S khai nhận phù hợp nội dung trên. L và S cất giữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì đã bị Công an phát hiện. L và S chưa cùng nhau sử dụng ma túy lần nào. Nguồn gốc số tiền 700.000 đồng mua ma túy do lao động mà có. Ngoài ra, L khai xe mô tô Honda biển kiểm soát 15AP – 035.88 là tài sản của bố L, ông Nguyễn Duy C (sinh năm 1959; trú tại số H đường K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng), ông C không biết L sử dụng xe mô tô vào việc mua ma túy sử dụng. L và S không nhận dạng được người bán ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 156/CT-VKSKA ngày 07 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Nguyễn Duy L, Hoàng Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L, S (áp dụng thêm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo S).

Đề nghị xử phạt:

Bị cáo Hoàng Văn S: 24 - 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ từ ngày tạm giữ.

Bị cáo Nguyễn Duy L: 21 - 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Miễn hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định.

Trả lại cho ông Nguyễn Duy C 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 15AP-035.88.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức án thấp để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ ngày 20/7/2024, tại trước cửa số nhà B đường P, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng, các bị cáo Nguyễn Duy L và Hoàng Văn S có hành vi cất giấu trái phép 0,33 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cá nhân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Các bị cáo Nguyễn Duy L và Hoàng Văn S có hành vi cất giấu 0,33 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cá nhân thì bị phát hiện, bắt quả tang nên bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về vai trò: Vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáo L, S có vai trò ngang nhau: L và S cùng nhau khởi xướng việc mua ma tuý về để sử dụng, cùng nhau góp tiền đi mua ma tuý, cùng đi mua ma tuý tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng để sử dụng.

[5] Về nhân thân: Bị cáo L có nhân thân không tiền án, tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo S có 01 tiền án: Bản án số 39/2023/HS-ST ngày 18/4/2023 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo đã nộp xong án phí vào ngày 13/6/2023, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/11/2023. Bản án trên chưa được xoá án tích thì ngày 20/7/2024 bị cáo S lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này của bị cáo S là “tái phạm” nên áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo S.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

- Về hình phạt:

[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, hình phạt của bị cáo S cao hơn bị cáo L.

[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

- Về vật chứng:

[10] Đối với số ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 15AP-035.88: Tại phiên toà cả bị cáo L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Duy C đều trình bày chiếc xe có nguồn gốc là ông C sử dụng tiền cá nhân của ông để mua, mục đích để cho bị cáo L sử dụng để đi làm. Ông C không biết chiếc xe bị cáo sử dụng để đi mua ma tuý, bị cáo L cũng không nói cho ông C biết bị cáo sử dụng xe để đi mua ma tuý. Tại phiên toà, ông C trình bày hiện bị cáo Chung đã đi tù, vợ bị cáo C đã ly thân, hiện ông C chăm sóc 3 con nhỏ của bị cáo L, cuộc sống vô cùng khó khăn, không có phương tiện đi lại, ông C tuổi đã cao, sức khoẻ yếu nên cả bị cáo L và ông C đều đề nghị giao lại chiếc xe ô tô trên cho ông C làm phương tiện đi lại, tiện chăm sóc các cháu nhỏ. Xét yêu cầu của ông C là hợp lý và chính đáng nên cần giao cho ông Nguyễn Duy C 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 15AP-035.88 để sử dụng.

- Về án phí:

[11] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Về các nội dung khác:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho L và S: Do chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn S, Nguyễn Duy L (áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Văn S).

    Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn S, Nguyễn Duy L đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt:

    1. Hoàng Văn S: 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2024.
    2. Nguyễn Duy L: 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
    • Tịch thu tiêu huỷ: Số ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong số 904MT/PC09 của Phòng PC09 – C2.
    • Trả lại cho ông Nguyễn Duy C 01 xe mô tô Honda biển kiểm soát 15AP-035.88, số khung RLHJK0333PZ107750 và số máy JK03E-4908776.

      (Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

  3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Kiến An;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Kiến An;
  • - Chi cục THADS quận Kiến An;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Trúc Hoa      Hoàng Thị Chính

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger