|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 149/2024/HS-ST Ngày 19-11-2024 |
————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đỗ Văn Minh
Ông Nguyễn Văn Thiện
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận HảiKiÕn An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Đức T, sinh ngày 23/8/1990 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn D và bà Vũ Thị N; có vợ là Phạm Thị H (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/7/2024; có mặt.
- Bị hại: Anh Hoàng Văn D, sinh ngày 24/8/2006, nơi cư trú: Số C P, Đ, H, Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1979, nơi cư trú: Số C P, Đ, H, Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 01/2024, Hoàng Văn T1, sinh năm 1979, ĐKHKTT: Số C P, Đ, H, Hải Phòng giao xe mô tô BKS 89K4-6021 có dung tích xi lanh 100cm³ cho con trai là Hoàng Văn D, sinh ngày 24/8/2006 để làm phương tiện đi lại.
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 07/02/2024, Hoàng Đức T (có giấy phép lái xe hạng D) điều khiển xe ô tô BKS 15K-068.52 di chuyển trên đường P thuộc phường Đ, H, Hải Phòng theo hướng từ đường P về UBND phường Đ. Khi đến trước cửa nhà số D P, do phát hiện đi nhầm đường nên T giảm tốc độ, quan sát phía sau qua gương chiếu hậu bên trái, bật đèn xi nhan trái và bắt đầu chuyển hướng từ từ về phía lề đường đối diện để quay đầu xe. Khi đầu xe ô tô đến gần phần lề đường bên trái (xe ô tô ở trạng thái ngang giữa đường, đầu xe chếch bên phải) thì T thấy anh Hoàng Văn D điều khiển xe mô tô BKS 89K4-6021 đi cùng chiều từ hướng P về UBND phường Đ nhưng không dừng kịp mà vẫn điều khiển xe để quay đầu. Lúc này, anh D đi gần đến xe ô tô của T thì đạp phanh xe và đánh lái sang trái để tránh nhưng không kịp, ốp nhựa bảo vệ càng giảm xóc bên phải bánh xe phía trước trên xe mô tô của anh D va chạm vào mặt ngoài cánh cửa bên trái phía trước xe ô tô của T. Lúc này, T cũng không kịp phanh nên xe ô tô vẫn di chuyển về phía trước. Sau va chạm, T đạp phanh, dừng xe và xuống kiểm tra, thấy xe mô tô BKS 89K4-6021 đổ dưới đường, phần lốp bánh trước dưới gầm xe ô tô của T, ở sau bánh lái bên trái. T thấy anh D bị ngã nằm dưới gầm phần đầu xe ô tô (ngón chân chạm đầu, phần hông quay lên trời). T lên xe điều khiển cho xe ô tô lùi lại thì người anh D duỗi ra, mặt quay lên trời theo tư thế nằm ngửa. Sau đó, T và Hoàng Văn T1 đưa anh D đi cấp cứu tại Bệnh viện H2, hai bên có trao đổi để tự giải quyết dân sự nên không trình báo với cơ quan chức năng. Đến ngày 14/02/2024, khi được Cơ quan Công an mời lên làm việc thì T đã đến trình diện và khai báo toàn bộ nội dung vụ tai nạn giao thông nêu trên.
Tại Biên bản dựng lại hiện trường, xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là khu vực trước cửa nhà số D đường P thuộc phường Đ, H, Hải Phòng, chiều từ đường P về UBND phường Đ, vỉa hè rộng 3m. Đây là đường có 02 chiều đi chuyển hỗn hợp, lòng đường rộng 7,2m. Mặt đường rải nhựa áp - phan, bằng phẳng, không thấy vạch kẻ đường, biển báo tín hiệu không có hiệu lực.
Xe mô tô BKS 89K4-6021 đỗ nghiêng bên trái, đầu xe hướng bãi đất trống, đuôi xe hướng đường P; tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau cách mép ngoài bên phải đường P lần lượt là 6,25m và 6,1m; tâm trục bánh sau cách đường thẳng vuông góc với mép ngoài bên phải đường P là 21,1m. Xe ô tô BKS 15K-068.52 đỗ, đầu xe hướng lòng đường P, đuôi xe hướng cổng UBND phường Đ; tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau bên phải cách mép ngoài bên phải đường P lần lượt là 2,1m và 0,1m. T2 trục bánh trước bên trái của xe ô tô BKS 15K-068.52 cách tâm trục bánh trước của xe mô tô BKS 89K4-6021 là 3,06m.
Tại Biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS 15K-068.52 và xe mô tô BKS 89K4-6021 đã xác định các dấu vết va chạm của các phương tiện. Tại bản Kết luận giám định số 1211 ngày 08/4/2024 của Phòng K - Công an T3, kết luận: Dấu vết bẹp lõm kim loại, bề mặt trượt xước mất sơn màu đen, bám dính tạp chất màu trắng (dạng nhựa) theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau tại mặt ngoài cánh cửa bên trái phía trước trên xe ô tô BKS 15K-068.52 phù hợp với dấu vết dập vỡ nhựa, bề mặt trượt xước mất nhựa màu trắng, bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ phải sang trái, từ trước về sau tại ốp nhựa bảo vệ càng giảm xóc bên phải bánh xe phía trước trên xe mô tô BKS 89K4-6021. Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động gần như vuông góc va chạm với nhau. Không đủ cơ sở xác định xe ô tô BKS 15K-068.52 đâm vào xe mô tô BKS 89K4-6021 và ngược lại.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 464 ngày 24/6/2024 của Trung tâm P kết luận: Anh Hoàng Văn D gãy xương sườn 12 hai bên, gãy vỡ thân đốt sống D12, trượt thân đốt sống D11, tổn thương tủy sống ngang mức D12. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên là 98%. Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu thập được 01 đoạn video trích xuất từ camera an ninh của UBND phường Đ 1 ghi lại diễn biến vụ tai nạn, qua giám định thể hiện không có sự cắt ghép, chỉnh sửa.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Đức T khai nhận hành vi điều khiển xe ô tô như nội dung nêu trên.
Tại Cáo trạng số 153/CT-VKS ngày 31/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố bị cáo Hoàng Đức T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng là đúng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Đức T từ 24 tháng đến 27 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Hoàng Đức T trả lại cho bị cáo.
- 01 USB nhãn hiệu Kingston 16GB chứa video ghi nhận vụ tai nạn giao thông chuyển lưu hồ sơ vụ án.
- Đối với xe ô tô BKS 15K-068.52: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2214 ngày 27/9/2024, trả lại chiếc xe này và các giấy tờ liên quan cho người đại diện theo ủy quyền của anh H1 là chị Vũ Thị Mai A.
- Đối với Xe mô tô BKS 89K4-6021 và các giấy tờ liên quan: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2215 ngày 27/9/2024, trả lại cho chủ sở hữu là ông Hoàng Văn T1.
- Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Đức T và chị Vũ Thị Mai A đã bồi thường cho anh Hoàng Văn D số tiền 294.000.000 đồng. Đối với thiệt hại của hai phương tiện, các bên thống nhất tự sửa chữa, không có yêu cầu bồi thường. Gia đình anh D không có đề nghị nào khác về vấn đề dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.
Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên. Phần nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình đã gây tai nạn cho anh D, bị cáo xin lỗi bị hại và gia đình bị hại. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, kết quả dựng hiện trường, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 00 phút, ngày 07/02/2024, tại khu vực trước cửa số 46 P, Đ, H, Hải Phòng, Hoàng Đức T điều khiển xe ô tô BKS 15K-068.52 chuyển hướng không đảm bảo an toàn, va chạm với xe mô tô BKS 89K4-6021 do anh Hoàng Văn D điều khiển, hậu quả anh D bị thương tích tổn hại 98% sức khỏe.
[3] Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Điều luật quy định: "...2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe ... phải ... nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác".
[4] Để xảy ra tai nạn là lỗi của bị cáo, bị cáo cấu thành khi tham gia giao thông, không thực hiện đúng các quy định của Luật Giao thông đường bộ khi chuyển hướng xe ô tô gây thiệt hại sức khỏe của người khác, đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo gây hậu quả anh D bị thương tích tổn hại 98% sức khỏe. Vì vậy, bị cáo bị xét xử theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
- Về hình phạt:
[6] Xét về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; bị cáo có nhân thân tốt vì ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.
[7] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, người bị hại cũng có lỗi khi điều khiển xe mô tô có dung tích trên 50cm³ không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ gây tai nạn giao thông nêu trên, không có bằng lái xe và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Đức T nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, cần xử lý nghiêm và áp dụng đối với bị cáo một hình phạt thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo có khả năng tự cải tạo. Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông trên cũng có phần lỗi của bị hại. Vì vậy, không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự và giao bị cáo cho gia đình, Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục, cũng đủ có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và công tác phòng ngừa tội phạm nói chung.
[9] Bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 264 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng:
[10] Đối với xe ô tô BKS 15K-068.52: Kết quả xác minh xác định chủ sở hữu là anh Trần Đức H1, sinh năm 1981, địa chỉ: Số A L, M, Ngô Q, Hải Phòng là bạn của T. Ngày 06/02/2024, anh H1 cho T mượn xe ô tô để sử dụng vài ngày. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2214 ngày 27/9/2024, trả lại chiếc xe này và các giấy tờ liên quan cho người đại diện theo ủy quyền của anh H1 theo quy định của pháp luật.
[11] Đối với mô tô BKS 89K4-6021 và các giấy tờ liên quan: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 2215 ngày 27/9/2024, trả lại cho chủ sở hữu là ông Hoàng Văn T1 theo quy định của pháp luật.
[12] Đối với 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Hoàng Đức T trả lại cho bị cáo.
[13] 01 USB nhãn hiệu Kingston 16GB chứa video ghi nhận vụ tai nạn giao thông chuyển lưu hồ sơ vụ án.
[14] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 294.000.000 đồng. Bị hại đã nhận số tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
[15] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[16] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Hoàng Đức T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Xử phạt bị cáo Hoàng Đức T 24 (hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định Thi hành án. Giao bị cáo Hoàng Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát giáo dục đối với bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án cải tạo không giam giữ vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Hoàng Đức T cho bị cáo.
- 01 USB nhãn hiệu Kingston 16GB chứa video ghi nhận vụ tai nạn giao thông chuyển lưu hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Căn cứ 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hoàng Đức T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
7
8
Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 149/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
