Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/HS-ST

Ngày 14/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Lê Văn Mỳ
  • + Ông Nguyễn Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hải Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 545/2024/HSST-QĐ ngày 24/10/2024 đối với bị cáo:

Vũ Thành Ý N, sinh năm 1995, tại Đồng Nai; nơi cư trú: tổ I, ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Công T (còn sống) và bà Bùi Thị Thanh T1 (còn sống); tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

* Bị hại: ông Hoàng Quang H, sinh năm 1970

Nơi cư trú: tổ C, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. Bà Vũ Thị Hoài T2, sinh năm 1997

Nơi cư trú: tổ 1, ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

2. Bà Bùi Thị Thanh T1, sinh năm 1973

Nơi cư trú: tổ 1, ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Xuất phát mâu thuẫn từ việc vay mượn tiền giữa Hoàng Tuấn A (con trai của ông Hoàng Quang H) với bà Bùi Thị Thanh T1 (mẹ của bị cáo). Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 09/02/2024, bà T1 đến nhà ông H để đòi tiền lãi. Ông H, Tuấn A không đồng ý trả tiền, bà T1 gọi điện thoại cho T2 để T2 nói chồng bà T1 đến nhà ông H giúp bà đòi nợ. Do chồng bà T1 không đi được. Lo lắng cho mẹ nên Vũ Thành Ý N và Vũ Thị Hoài T2 đến nhà ông H. Khi mẹ con bà T1 đến nhà Tuấn A tại ấp B, xã V thì gặp ông Hoàng Quang H cùng Tuấn A đang ở nhà, hai bên nói qua lại rồi xảy ra mâu thuẫn xô đẩy giằng co nhau. Ông H dùng tay đập xuống mặt bàn và quát lớn, T2 quát lại và hất một số đồ đạc trên bàn xuống. Khi các bên mâu thuẫn, tranh cãi thì N nhặt kéo để trên bàn hù dọa ông H. Ông H lấy bình trà ném xuống nền nhà, T2 cũng cầm ly thủy tinh ném xuống đất. Lúc này Vũ Thành Ý N đứng cách ông H khoảng 06 mét cầm hộp gỗ đựng khăn giấy kích thước dài là 22cm, ngang 11cm, cao 08cm trên bàn để ngăn ông H đánh mẹ và em, ném trúng vùng đầu ông H gây thương tích ở đỉnh đầu trái. Sau đó các bên tiếp tục tranh cãi, một lúc sau ông H phát hiện bị chảy máu trên đầu nên được người nhà đưa đến Trung tâm y tế huyện V băng bó vết thương và điều trị.

Ngày 05/4/2024, ông Hoàng Quang H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Vũ Thành Ý N về hành vi cố ý gây thương tích.

- Tang vật thu giữ:

  • + 01 hộp gỗ đựng khăn giấy hình chữ nhật có kích thước chiều dài 22cm, chiều ngang 11cm, chiều cao 08cm.
  • + 01 USD màu đen hiệu Apacer trích xuất từ camera lưu dữ liệu vụ việc (do ông Hoàng Quang H cung cấp).

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0314/KL ngày 04/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận: Sẹo đỉnh trái kích thước 03cm x 0,3cm. Tỷ lệ: 02 %. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Quang H tại thời điểm giám định là 02%. Vật gây thương tích: Vật tày (Bút lục số: 12-15).

Quá trình điều tra cũng như quá trình xét xử, bị cáo không có ý kiến gì về bản Kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm P.

Bùi Thị Thanh T1 và Vũ Thị Hoài T2 cùng đi với Vũ Thành Ý N đến nhà ông H để đòi nợ, không có mục đích đánh nhau. Ông H bị thương tích là do hành vi độc lập của N gây ra, nên T1 và T2 không đồng phạm đối với hành vi phạm tội của N.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng nhưng không cung cấp hóa đơn, chứng từ.

Cáo trạng số 134/CT-VKSVC ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Vũ Thành Ý N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Vũ Thành Ý N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 (bị hại có một phần lỗi) Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

- Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố ông H không cung cấp tài liệu, chứng cứ, sau đó không có mặt tại địa phương nên đề nghị dành quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Hoàng Quang H bằng một vụ án khác khi ông H có yêu cầu.

- Xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 hộp gỗ đựng khăn giấy hình chữ nhật kích thước dài 22cm, ngang 11cm, cao 08cm do không còn giá trị sử dụng.

- Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã rút ra bài học cho mình, bị cáo gửi lời xin lỗi bị hại, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 20 phút gày 09/02/2024, tại nhà ông Hoàng Quang H địa chỉ ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, xuất phát từ mâu thuẫn trong việc vay mượn tiền giữa Hoàng Tuấn A (con ông H) với bà Bùi Thị Thanh T1, nên con gái bà T1 là Vũ Thành Ý N dùng hộp gỗ đựng khăn giấy hình chữ nhật kích thước dài 22cm, ngang 11cm, cao 08 cm ném trúng vùng đầu ông H gây thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 02%.

Bị cáo đã dùng hộp gỗ là hung khí nguy hiểm, cố ý gây thương tích cho ông Hoàng Quang H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại. Hành vi của bị cáo xuất phát do tự phát, mục đích ngăn không cho ông H đến gần mẹ và em của bị cáo, trong vụ án này có một phần lỗi của bị hại. Khi ông H bị thương tích thì bản thân ông H cũng không biết ai là người gây ra thương tích cho ông, bị cáo đã thành khẩn nhận tội và khai báo hành vi của mình. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo nên Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt bị cáo hình phạt chính là xử phạt tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe, phòng ngừa tội phạm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Quá trình điều tra, truy tố bị hại ông H yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 200.000.000 đồng nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã thông báo cho ông H về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu bồi thường của mình nhưng ông H không cung cấp nên không có tài liệu, chứng cứ để xem xét giải quyết. Dành quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Hoàng Quang H bằng một vụ án khác khi ông H có yêu cầu.

[7] Xử lý vật chứng

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp gỗ đựng khăn giấy hình chữ nhật kích thước dài 22cm, ngang 11cm, cao 08cm do không còn giá trị sử dụng.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Thương tích của ông H do hành vi độc lập của N gây ra, nên T1 và T2 không đồng phạm đối với hành vi phạm tội của N.

[10] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thành Ý N phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Xử phạt: Bị cáo Vũ Thành Ý Nhi 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp gỗ đựng khăn giấy hình chữ nhật kích thước dài 22cm, ngang 11cm, cao 08cm.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

3. Về án phí: Bị cáo Vũ Thành Ý N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thành Ý N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger