Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 149/2024/HSST

Ngày 14-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tín; bà Vũ Thị Huyền Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hoa - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 146/2024/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với:

  • + Bị cáo: Trần Trung Đ, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn Y, xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: Đảng viên Đ2 (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng); con ông Trần Văn V và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  • - Bị hại: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959 (đã chết). Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Vắng mặt.
  • - Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1994; anh Lê Tùng L, sinh năm 1996; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/5/2024, Trần Trung Đ có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 04/6/2014 một mình điều khiển xe mô tô Wave RSX biển số 81T1-165.85 trên đường ĐH02 từ hướng phường H đi Chuyên Ngoại để về nhà ở thôn Y, xã C, thị xã D. Khi điều khiển xe đi tới khu vực xóm Đ, xã C, thị xã D, Đức quan sát phía trước đầu xe mô tô của mình có một xe ô tô con (không rõ biển số) đang bật xi nhan rẽ phải vào đường nhỏ. Thấy vậy, Đ điều khiển xe mô tô đánh lái sang trái để vượt chiếc xe ô tô này rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về hướng Chuyên Ngoại với tốc độ khoảng 40km/h-50km/h, Đ quan sát thấy bà Nguyễn Thị M đang điều khiển xe đạp đi phía trước cùng chiều, cách đầu xe mô tô của Đ khoảng 02 mét. Đ bóp phanh tay bên phải để giảm tốc độ và đánh lái sang trái để tránh bà M nhưng do khoảng cách quá gần nên phần đầu xe bên phải của xe mô tô của Đ đâm vào phần đuôi xe đạp của bà M, làm bà M và xe đạp đổ ngã ra đường, xe mô tô của Đ và xe đạp của bà M bị rê trượt về hướng Chuyên Ngoại. Hậu quả: Bà M bị thương tích nặng được cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đ3 và Bệnh viện đa khoa tỉnh H. Đến ngày 12/5/2024 thì bà M bị tử vong; Đ bị thương tích nhẹ; 02 phương tiện bị hư hỏng.

Kết quả kiểm tra Trần Trung Đ không có nồng độ cồn, âm tính với các chất ma túy.

Khám nghiệm hiện trường: tai nạn giao thông xảy ra trên mặt đường ĐH02 là đường hai chiều được phân chia bởi vạch sơn màu vàng nét đứt rộng 0,15m, chiều đường H - Chuyên Ngoại rộng 3m tiếp giáp phía bên phải là phần vỉa hè rộng 4m, chiều đường hướng Chuyên Ngoại - Hòa Mạc rộng 3m tiếp giáp phần vỉa hè rộng 2,5m. Vị trí dấu vết phương tiện được đánh số thứ tự tự nhiên từ (1) đến (3), điểm xác định hiện trường là mép nhà phía bên trái hướng từ đường ĐH02 vào gia đình ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1971, trú tại xóm Đ, xã C, thị xã D và vị trí dấu vết được đo vuông góc vào mép đường phía bên phải hướng từ H - Chuyên Ngoại. Dấu vết (1) là vết mài sạt bề mặt bám dính lớp cao su màu đen kích thước (0,8x0,01)m, có hướng H - Chuyên Ngoại, đo từ dấu vết (1) vào mép đường phía bên phải là 1,5m, đo từ cuối dấu vết (1) vào mép đường phía bên phải là 1,4m, đo từ cuối dấu vết (1) về phía Chuyên Ngoại 1,2m là đầu vết (2). Dấu vết (2) là mảng vết mài sạt kích thước (3,9x0,35)m có hướng H - Chuyên Ngoại, đo từ điểm gần nhất của dấu vết (2) vào mép đường bên phải là 1,5m, đo từ điểm gần nhất của cuối dấu vết (2) vào mép đường bên phải là 01m, đo từ dấu vết (2) về phía Chuyên Ngoại 2 mét là đầu vết (3); Dấu vết (3) là vết mài sạt kích thước (0,2x0,005)m có hướng H - Chuyên Ngoại. Đo từ đầu vết (3) vào mép đường bên phải là 0,25m, đo từ cuối vết (3) vào mép đường bên phải là 0,25m. Đo từ đầu vết (1) về phía Hòa Mạc 0,5m là mép nhà bên trái hướng từ đường ĐH02 vào gia đình ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1971, trú tại xóm Đ, xã C, thị xã D.

Khám xe mô tô biển số 81T1-165.85: không có gương chiếu hậu bên phải; ốp nhựa đèn xi nhan phía trước bên phải bị tách vỡ trên diện kích thước (7x2)cm; mặt ngoài phía trên cánh yếm chắn gió phía trước bên phải có vết trượt xước trên diện kích thước (9x0,002)cm hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 73cm. Mặt ngoài cánh yếm chắn gió bên phải có vết trượt xước chùi sạch bụi trên diện kích thước (9x2,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 53cm. Mặt trước đầu tay nắm phía trước bên trái bằng kim loại mài sạt trên diện kích thước (1,5x0,5)cm hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 93cm. Đầu ốc bắt bu lông giảm xóc phía trước bên trái có vết mài xước bề mặt bám dính bột đá kích thước (1x0,5)cm. Ốp cao su bảo vệ để chân trước bên trái bị mài sạt nham nhở trên diện kích thước (4,5x1)cm, hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 25cm. Cạnh ngoài để chân phía sau bên trái bị mài vẹt kim loại trên diện kích thước (2,5x0,5)cm hướng từ trước về sau.

Khám xe đạp nữ đã qua sử dụng, màu sơn xanh, không mang nhãn hiệu: Giỏ xe bị bẹp méo cũ rỉ, yên xe bọc áo len màu nâu kẻ. Tay phanh bên phải bị đẩy lệch từ dưới lên trên so với vị trí ban đầu 7cm bề mặt đầu tay phanh bám dính nhiều bụi đá. Cạnh ngoài bàn đạp bên phải có vết mài sạt kim loại trên diện kích thước (0,5x0,002)cm không rõ hướng. Cạnh ngoài phía sau bên trái rá chở hàng bằng kim loại có bám dính chất màu đỏ nghi sơn trên diện kích thước (3x0,003)cm hướng từ sau về trước, điểm thấp nhất cách đất 71cm. Mặt trên ống kim loại hình tròn chân chống bên trái có diện bám dính chất màu đỏ nghi sơn kích thước (8,5x0,002)cm hướng từ sau về trước, điểm gần nhất đo cách cuối chân chống này 7,5cm. Chắn bùn phía sau bánh sau xe bị lệch sang phải.

Khám nghiệm tử thi: Sây sát da mạn sườn trái bám vảy tiết diện (4,5x2)cm hướng từ dưới lên trên, sây xát da lưng phải sát mông diện (6x4)cm hướng từ dưới lên trên; xây xát da bám vảy tiết mặt sau ngoài khuỷu tay phải kích thước (0,4x0,3)cm không rõ hướng; sây xát da mặt trước ngoài đùi mông trái diện (21x13)cm hướng từ dưới lên trên; sây xát da thái dương phải diện (3x1)cm hướng từ trên xuống dưới. Bầm tụ máu cơ thái dương phải kích thước (8x2,5)cm, màng cứng căng, trắng bóng. Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, mờ các rãnh não, chảy máu lan tỏa dưới màng mềm hai bán cầu đại não và trong não thất. Xương hộp sọ không lún vỡ. Gia đình từ chối mổ ngực bụng.

Quá trình khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị M đã thu giữ lượng nhỏ mẫu các cơ thái dương phải, màng não cứng, não, tiểu não đựng trong lọ nhựa có chất bảo quản, đậy nắp kín, được niêm phong ký hiệu M1; Não, tiểu não đựng vào trong lọ nhựa có nắp đậy kín, được niêm phong ký hiệu M2 (để phục vụ giám định mô bệnh học, độc chất)

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 20/KLGĐTT-TTGĐYK&PY, ngày 21/6/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H, kết luận: Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Thị M do chấn thương sọ não rất nặng.

Tại Bản kết luận giám định mô bệnh học số 58/24/KLMBH-VPYQG ngày 29/5/2024 của V1, kết luận: Màng não cứng: Cấu trúc bình thường; Não: Ô tụ máu, chảy máu dưới màng cứng, tổn thương chảy máu lan tỏa trong nhu mô não; Cơ vân: Chảy máu lan tỏa trong mô kẽ.

Tại Bản kết luận giám định độc chất số 315/422/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 21/5/2024 của V1, kết luận: Không tìm thấy các chất độc trong mẫu não gửi giám định.

Tại Bản kết luận định giá số 43/KL-HĐ ngày 21/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô Wave biển số 81T1-165.85 là 320.000đ; Giá trị thiệt hại của xe đạp là 220.000₫.

Vật chứng thu giữ gồm: T 01 xe mô tô BKS 81T1-165.85, 01 đăng ký xe mô tô và 01 giấy phép xe mô tô của Trần Trung Đ; 01 xe đạp nữ cũ gỉ nát, không nhãn hiệu của bà Nguyễn Thị M và 01 video được trích xuất từ hệ thống camera an ninh của quán K1, địa chỉ ở xóm Đ, xã C, thị xã D, có thời lượng từ 15 giờ 35 phút 37 giây đến 15 giờ 38 phút 19 giây, ngày 11/5/2024, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã trả lại cho Trần Trung Đ: 01 xe mô tô biển số 81T1-165.85 và giấy tờ liên quan đến xe; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 04/6/2014. Trả lại cho đại diện gia đình bị hại là ông Nguyễn Văn B chiếc xe đạp nữ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Trung Đ và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 130.000.000₫.

Cáo trạng số 152/CT-VKS- DT ngày 20/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết và tuyên án phí đối với bị cáo.

Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 11/5/2024, Trần Trung Đ điều khiển xe mô tô Wave RSX biển số 81T1-165.85 trên đường ĐH02 từ hướng phường H đi Chuyên Ngoại để về nhà ở thôn Y, xã C, thị xã D. Khi Đ điều khiển xe đi tới khu vực xóm Đ, xã C, thị xã D, do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi liền phía trước nên đã để phần đầu bên phải xe mô tô biển số 81T1-165.85 đâm vào phần đuôi xe đạp do bà Nguyễn Thị M đang điều khiển đi phía trước cùng chiều, hậu quả làm bà M bị tử vong.

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông, đồng thời ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo điều khiển xe mô tô thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước vi phạm Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và Điều 11 của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, hậu quả làm chết một người đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo và gia đình đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại; bị cáo có thời gian tham gia quân đội, có hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Từ nhận định trên xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng vì vậy không cần phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của gia đình, xã hội tạo điều kiện cho bị cáo cải sửa mình. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: đại diện của bị hại đã nhận tiền bồi thường, nay không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[6] Về vật chứng, tài liệu thu giữ: Đối với đoạn video trích xuất từ hệ thống camera an ninh của quán K1 chứa tài liệu liên quan đến vụ án tai nạn giao thông cần được lưu giữ trong hồ sơ. Đối với các tài liệu vật chứng khác đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, truy tố nên không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, các đương sự thực hiện theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
  2. Tuyên bố bị cáo Trần Trung Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt: Trần Trung Đ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/11/2024).

    Giao bị cáo Trần Trung Đ cho Ủy ban nhân dân xã C, thị xã D, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Trần Trung Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
  4. Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện của người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

TRẦN NGỌC THUẬN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 149/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trung Đức phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger