Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. ĐÀ NẴNG

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

Bản án số: 149/2024/DS-ST

Ngày 30.9.2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng

Tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy

Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Xoa

- Ông Nguyễn Xuân Tùng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 247/2024/TLST-DS ngày 01.7.2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-DS ngày 30.8.2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-DS ngày 12.9.2024 giữa:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ. Trụ sở: 02 L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị Thanh H - Chức vụ: Chuyên gia tố tụng – Khối QL&TCTTS (Theo Giấy ủy quyền số 11652/UQ-PVB ngày 28.5.2024). Địa chỉ: số B đường C tháng D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, (có mặt).

* Bị đơn: Bà Lê Thị Quỳnh C - Sinh năm 1988, địa chỉ tại: 1 Ông Í, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/5/2024, các bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bà Phan Thị Thanh H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ trình bày:

- Về quan hệ tín dụng: Nhằm mục đích sửa chữa nhà ở, bổ sung vốn kinh doanh và tiêu dùng, bà Lê Thị Quỳnh C đã ký kết các hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ, cụ thể:

  • * Hợp đồng cho vay số 257/2021/HĐTD/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021

    Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), thời hạn vay: 240 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, mục đích vay: Vay sửa chữa nhà ở, lãi suất cho vay được ghi nhận tại Khế ước nhận nợ: 12 tháng đầu: 8,5%/năm sau đó điều chỉnh lãi suất: 03 tháng/lần và được xác định bằng lãi suất cơ sở (dài hạn được Ngân hàng niêm yết từng thời kỳ) + biên độ 3,2%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm, kỳ hạn trả gốc, lãi: Vào ngày 15 hàng tháng.

  • + Hợp đồng hạn mức cho vay số 324/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022: Hạn mức vay: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), thời hạn hạn mức cho vay: 36 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, thời hạn khoản vay: 06 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay và được ghi cụ thể tại Khế ước nhận nợ, mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh, lãi suất cho vay được ghi nhận tại Khế ước nhận nợ (12 tháng đầu tiên là 12,5%/năm, sau đó điều chỉnh lãi suất: 03 tháng/lần và được xác định bằng lãi suất cơ sở LSCS + biên độ 3,0%/năm), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Kỳ hạn trả gốc: Vào ngày kết thúc thời hạn khoản vay (ngày 03/02/2023); kỳ hạn trả lãi: Vào ngày 05 hàng tháng.
  • + Hợp đồng hạn mức thấu chi số 326/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022: Hạn mức thấu chi: 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), thời hạn hạn mức thấu chi: 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, mục đích vay: Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, các khoản phải trả và mục đích tiêu dùng hợp pháp khác, lãi suất thấu chi: tại thời điểm ký hợp đồng là 10,8% và được điều chỉnh 03 tháng một lần theo công thức: Lãi suất thấu chi = lãi suất cơ sở + 4,0%/năm (trong đó: lãi suất cơ sở là lãi suất được Ngân hàng niêm yết từng thời kỳ), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Kỳ hạn trả số tiền thấu chi (gốc): Thanh toán một phần hoặc toàn bộ hàng tháng nhưng phải được thanh toán toàn bộ vào ngày kết thúc thời hạn hạn mức thấu chi. Kỳ hạn trả lãi: Vào ngày 05 hàng tháng.
  • + Tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho việc thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ tài chính đối với P, bà Lê Thị Quỳnh C đã thế chấp cho P tài sản thuộc quyền sở hữu của mình là quyền sử dụng đất và mọi tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 169; tờ bản đồ số 23, địa chỉ: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Hồ sơ tài sản bảo đảm: Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 257/2021/HĐBĐ/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021 ký giữa P với bà Lê Thị Quỳnh C tại Văn phòng C1 và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3402031344, hồ sơ gốc số 72730, do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 07/01/2004, được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại quận T ngày 12/08/2021.

Thực hiện các hợp đồng tín dụng, P đã giải ngân các khoản vay với tổng số tiền là 2.000.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ ngày 12/08/2021 và Khế ước nhận nợ ngày 03/08/2022 và cấp tài khoản hạn mức thấu chi 600.000.000 đồng cho bà Lê Thị Quỳnh C. Bà Lê Thị Quỳnh C đã thanh toán cho P tổng số tiền là: 343.230.884 đồng (Trong đó: Nợ gốc 83.340.000 đồng, nợ lãi 259.890.894 đồng). Chi tiết theo từng hợp đồng:

Đvt: Đồng

Nội dung Hợp đồng số 257 Hợp đồng số 324 Hợp đồng số 326 Tổng
Nợ gốc 83.340.000 0 0 83.340.000
Nợ lãi 168.959.349 39.581.398 51.350.137 259.890.894
Tổng 252.299.349 39.581.398 51.350.137 343.230.884

Bà Lê Thị Quỳnh Châu bắt đầu vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản vay cho P kể từ kỳ thanh toán ngày 05/05/2023.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng TMCP Đ đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng giải quyết buộc bà Lê Thị Quỳnh C thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền nợ gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 30/09/2024 là 3.163.976.026 đồng, trong đó: Nợ gốc 2.516.660.000 đồng, nợ lãi 647.316.026 đồng (gồm: lãi trong hạn 231.311.329 đồng, lãi trên gốc quá hạn 396.486.166 đồng và lãi chậm trả là 19.518.531 đồng), cụ thể theo từng hợp đồng như sau:

  • + Hợp đồng cho vay số 257/2021/HĐTD/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021: Số tiền phải trả 1.116.951.676 đồng, trong đó: Nợ gốc 916.660.000 đồng, nợ lãi 200.291.676 đồng (gồm: lãi trong hạn 1176.871.055 đồng, lãi trên gốc quá hạn 10.608.082 đồng và lãi chậm trả là 12.812.539 đồng);
  • + Hợp đồng hạn mức cho vay số 324/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022: Số tiền phải trả 1.262.693.273 đồng, trong đó: Nợ gốc 1.000.000.000 đồng, nợ lãi 262.693.273 (gồm: Lãi trong hạn 26.075.891 đồng, lãi trên gốc quá hạn 233.568.494 đồng và lãi chậm trả là 3.048.888 đồng);
  • + Hợp đồng hạn mức thấu chi số 326/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022: Số tiền phải trả 784.331.077 đồng, trong đó: Nợ gốc 600.000.000 đồng, nợ lãi 184.331.077 đồng (gồm: lãi trong hạn 28.364.383 đồng, lãi trên gốc quá hạn 152.309.590 đồng và lãi chậm trả là 3.657.104 đồng);
  • + Buộc bà Lê Thị Quỳnh C phải tiếp tục trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền lãi, phạt phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 257/2021/HĐTD/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021, Hợp đồng hạn mức cho vay số 324/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022 và Hợp đồng hạn mức thấu chi số 326/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022 kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi tất toán các khoản vay.

Trường hợp bà Lê Thị Quỳnh C không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ toàn bộ nghĩa vụ nợ, đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 257/2021/HĐBĐ/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021 để thanh toán các khoản nợ vay tại P là Quyền sử dụng đất và mọi tài sản gắn liền với đất (nhà ở 02 tầng, tường xây, sàn đúc, mái tôn diện tích xây dựng 47,3m2, diện tích sử dụng 94,6m2), tại Thửa đất số 169, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3402031344, hồ sơ gốc số 72730, do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 07/01/2004, chuyển nhượng cho bà Lê Thị Quỳnh C ngày 30/10/2020.

* Đối với bị đơn là bà Lê Thị Quỳnh C: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần cho bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bà Lê Thị Quỳnh C không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa các bên là hợp pháp, thoả mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nên rang buộc các bên tham gia ký kết. Bà Lê Thị Quỳnh C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán do đó cần căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nay là Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến hết ngày 30/9/2024 là 3.163.976.026 đồng (trong đó: Nợ gốc 2.516.660.000 đồng, nợ lãi 647.316.026 đồng (gồm: lãi trong hạn 231.311.329 đồng, lãi trên gốc quá hạn 396.486.166 đồng và lãi chậm trả là 19.518.531 đồng). Ngoài ra, bị đơn còn phải trả các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 257/2021/HĐTD/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021, Hợp đồng hạn mức cho vay số 324/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022 và Hợp đồng hạn mức thấu chi số 326/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022 kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi tất toán các khoản vay.

Trường hợp bà Lê Thị Quỳnh C thanh toán đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng hoàn trả giấy chứng nhận tài sản thế chấp cho bà Lê Thị Quỳnh C theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bà Lê Thị Quỳnh C không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 169, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3402031344, hồ sơ gốc số 72730, do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 07/01/2004 để thu hồi nợ cho ngân hàng theo quy định tại Điều 299, 323 Bộ luật dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Đ với bà Lê Thị Quỳnh C thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm b khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hợp đồng tín dụng mà các bên đã giao kết là hợp đồng có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại phiên toà, bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
  2. [2] Ngân hàng khởi kiện bà Lê Thị Quỳnh C yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay số 257/2021/HĐTD/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021, Hợp đồng hạn mức cho vay số 324/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022 và Hợp đồng hạn mức thấu chi số 326/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022, bà Lê Thị Quỳnh C còn nợ Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 30/09/2024 là 3.163.976.026 đồng, trong đó: Nợ gốc 2.516.660.000 đồng, nợ lãi 647.316.026 đồng; Trong trường hợp Bà Lê Thị Quỳnh C không trả được nợ Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 257/2021/HĐBĐ/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021 để thanh toán các khoản nợ vay tại P là Quyền sử dụng đất và mọi tài sản gắn liền với đất (nhà ở 02 tầng, tường xây, sàn đúc, mái tôn diện tích xây dựng 47,3m2, diện tích sử dụng 94,6m2), tại Thửa đất số 169, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3402031344, hồ sơ gốc số 72730, do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 07/01/2004 theo quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi nợ. Do đó, xác định đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. [3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn HĐXX thấy:
    1. [3.1] Ngân hàng đã thực hiện đúng các thủ tục cho vay, giải ngân cũng như thế chấp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên Ngân hàng đề nghị Toà án buộc bà C phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp bà C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì đề nghị Toà án xử lý tài sản bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi nợ là có cơ sở. Do đó, căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nay là Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền cả gốc và lãi là 3.163.976.026 đồng, trong đó: Nợ gốc 2.516.660.000 đồng, nợ lãi 647.316.026 đồng. Bà C tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi thoả thuận tại các Hợp đồng cho vay số 257/2021/HĐTD/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021, Hợp đồng hạn mức cho vay số 324/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022 và Hợp đồng hạn mức thấu chi số 326/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ký ngày 02/08/2022 đến khi thanh toán hết khoản nợ.
  4. [4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp của Ngân hàng HĐXX thấy:
    1. [4.1] Để đảm bảo khoản nợ vay, Ngân hàng cùng bà Lê Thị Quỳnh C, ký Hợp đồng thế chấp để thế chấp tài sản đứng tên bà Lê Thị Quỳnh C theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 257/2021/HĐBĐ/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021 đã được công chứng tại Văn phòng C1 và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định. Xét nội dung và hình thức của hợp đồng thế chấp trên phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
    2. [4.2] Qua xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện tài sản thế chấp là nhà và đất tại Thửa đất số 169, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3402031344, hồ sơ gốc số 72730, do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 07/01/2004. Đối với diện tích đất không thay đổi so với giấy chứng nhận đã được đăng ký thế chấp là 91,2m². Các tài sản gắn liền với đất gồm nhà ở 02 tầng, tường xây, sàn gỗ, mái tôn, nền lát gạch tổng diện tích sử dụng 2 tầng khoảng 95m²; Phần đất trống còn lại phát sinh công trình phụ diện tích khoản 25m² có kết cấu tường xây, nền lát gạch, mái lợp tôn; Phần đất trống phía trước có bạt rút, có mái tôn che. Trong trường hợp Bà Lê Thị Quỳnh C không trả được nợ thì tài sản thế chấp trên được xử lý theo quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi toàn bộ nợ gốc, lãi và lãi phát sinh theo các hợp đồng trên cho đến khi Bà Lê Thị Quỳnh C thanh toán hết nợ theo quy định tại Điều 299, 323 Bộ luật dân sự năm 2015. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  5. [5] Sau khi bà Lê Thị Quỳnh C trả hết toàn bộ số nợ thì Ngân hàng TMCP Đ phải hoàn trả cho bà Lê Thị Quỳnh C Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3402031344, hồ sơ gốc số 72730, do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 07/01/2004 đứng tên bà Lê Thị Quỳnh C.
  6. [6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng Ngân hàng đã tạm nộp và đã chi phí xong nên cần buộc bị đơn là bà Lê Thị Quỳnh C phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ.
  7. [7] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên bà Lê Thị Quỳnh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  8. [8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và đề xuất về nội dung là đúng các quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 144, 147, 235, 244, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299, Điều 323, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP Đ đối với bà Lê Thị Quỳnh C.

Xử:

  1. Buộc bà Lê Thị Quỳnh C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền là 3.163.976.026 đồng, trong đó: Nợ gốc 2.516.660.000 đồng, nợ lãi 647.316.026 đồng. Lãi suất được tiếp tục tính từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 257/2021/HĐTD/PVB-PGDCM ngày 11/08/2021, Hợp đồng hạn mức cho vay số 324/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ngày 02/08/2022 và Hợp đồng hạn mức thấu chi số 326/2022/HĐTD/PVB-PGDCM ngày 02/08/2022 được ký giữa các bên cho đến khi bà Lê Thị Quỳnh C thanh toán hết nợ.
  2. Sau khi Bà Lê Thị Quỳnh C trả hết toàn bộ số nợ thì Ngân hàng TMCP Đ phải hoàn trả cho Bà Lê Thị Quỳnh C Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3402031344, hồ sơ gốc số 72730, do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 07/01/2004 đứng tên bà Lê Thị Quỳnh C.
  3. Trường hợp Bà Lê Thị Quỳnh C không trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ thì tài sản thế chấp là nhà đất theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 3402031344, hồ sơ gốc số 72730, do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cấp ngày 07/01/2004 đứng tên bà Lê Thị Quỳnh C được xử lý theo quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi nợ. Qua xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện tài sản thế chấp là nhà và đất tại Thửa đất số 169, tờ bản đồ số 23, địa chỉ: K T, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng có diện tích đất không thay đổi so với giấy chứng nhận đã được đăng ký thế chấp là 91,2m². Các tài sản gắn liền với đất gồm nhà ở 02 tầng, tường xây, sàn gỗ, mái tôn, nền lát gạch tổng diện tích sử dụng 2 tầng khoảng 95m²; Phần đất trống còn lại phát sinh công trình phụ diện tích khoản 25m² có kết cấu tường xây, nền lát gạch, mái lợp tôn; Phần đất trống phía trước có bạt rút, có mái tôn che.
  4. Buộc Bà Lê Thị Quỳnh C phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đ 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Quỳnh C phải chịu là 95.279.520 đồng (Chín mươi lăm triệu hai trăm bảy mươi chín nghìn năm trăm hai mươi đồng). Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 45.583.734 đồng (Bốn mươi lăm triệu năm trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm ba mươi bốn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000425 ngày 28.6.2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát Q. H;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc Thuỳ

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 149/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng"của Ngân hàng TMCP Đ đối với bà Lê Thị Quỳnh C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger