TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 149/2024/HS-PT Ngày 26-9-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Vân Thúy
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Ông Vũ Quang Trung
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 124/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024
Do bản án hình sự sơ thẩm 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 123/2024/QĐXXPT-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch phiên toà số 135/TB-TA ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo có kháng cáo:
- Trịnh Đức M, sinh ngày 15-3-2007 tại Hải Phòng (Khi phạm tội 16 tuổi 08 tháng 16 ngày); nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đức T và bà Phan Thị H; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01-02-2024 đến nay; có mặt.
- Nguyễn Thái H1, sinh ngày 07-3-2007 tại Hải Phòng (Khi phạm tội 16 tuổi 08 tháng 24 ngày); nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công H2 (đã chết) và bà Phạm Thị T1; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01-02-2024 đến nay; có mặt.
- Trịnh Thành L, sinh ngày 10-01-2007 tại Hải Phòng (Khi phạm tội 16 tuổi 10 tháng 21 ngày); nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Quốc T2 và bà Nguyễn Thị Â; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an thành phố H theo Quyết định tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Phạm Thế A, sinh ngày 26-10-2006 tại Hải Phòng (Khi phạm tội 17 tuổi 01 tháng 05 ngày); nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T3 và bà Ngô Thị V; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01-02-2024 đến nay; có mặt.
- Phạm Quốc A1, sinh ngày 19-7-2007 tại Hải Phòng; (Khi phạm tội 16 tuổi 04 tháng 12 ngày) nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị Thu T4; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01-02-2024 đến nay; có mặt.
- Phạm Văn T5, sinh ngày 26-5-2007 (Khi phạm tội 16 tuổi 06 tháng 05 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T6 và bà Phạm Thị H3; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27-6-2023 Phạm Văn T5 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Hải Dương khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú về tội Gây rối trậ tự công cộng. Tại Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 10-5-2024 Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt Phạm Văn T5 26 tháng tù, được trừ 08 ngày tạm giữ (từ ngày 23-6-2023 đến ngày 01-7-2023), bị cáo còn phải chấp hành 25 tháng 22 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án, bị cáo Phạm Văn T5 kháng cáo; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 02-02-2024 đến nay; có mặt.
- Bùi Huy H4, sinh ngày 07-11-2005 tại Hải Phòng (Khi phạm tội trên 18 tuổi); nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Bùi Thị V1; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01-02-2024 đến nay; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Đức M: Ông Trịnh Đức T, sinh năm 1976 và bà Phan Thị H, sinh năm 1977 (là bố, mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn Đ, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng; đều có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Thái H1: Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1983 (là mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Thành L: Ông Trịnh Quốc T2, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Â, sinh năm 1979 (là bố, mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thế A: Ông Phạm Văn T3 và bà Ngô Thị V, sinh năm 1969 (là bố, mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; ông T3 vắng mặt, bà V có mặt;
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Quốc A1: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị Thu T4, sinh năm 1987 (là bố, mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn T5: Ông Phạm Văn T6 và bà Phạm Thị H3, sinh năm 1983 (là bố, mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; ông T6 vắng mặt, bà H3 có mặt;
Người bào chữa cho các bị cáo Trịnh Thành L, Phạm Quốc A1: Bà Trần Thị T7 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt
Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thái H1, Phạm Thế A, Phạm Văn T5: Bà Nguyễn Thị H5 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
Người bào chữa cho các bị cáo Phạm Quốc A1, Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1: Ông Trịnh Văn N – Luật sư công ty luật Trịnh Khắc T8; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện nhà trường nơi bị cáo Trịnh Đức M, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1 học tập: Ông Phạm Văn C1, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên huyện V, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Khu B, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
Đại diện đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo Trịnh Đức M sinh hoạt); vắng mặt;
Đại diện đoàn thanh niên công sản Hồ Chí Minh xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng (nơi các bị cáo Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1 sinh hoạt); vắng mặt;
Đại diện đoàn thanh niên công sản Hồ Chí Minh xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng (nơi bị cáo Phạm Thế A sinh hoạt); vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo bản án hình sự sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
Chiều ngày 01 tháng 12 năm 2023, tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên huyện V, trong lúc đi vệ sinh Trịnh Đức M và Phạm Văn K, sinh ngày 17-5-2008 (được 15 năm 06 tháng, 14 ngày tuổi) ở thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau nên M nảy sinh ý định đánh K sau khi tan học. Thực hiện ý định, M rủ Phạm Quốc A1 là bạn học cùng lớp và bảo Quốc A1 gọi điện rủ Trịnh Thành L, sau đó M và Quốc A1 gọi điện thoại rủ L đi đánh K, L đồng ý và nói với M “Thích cầm mèo (dao mèo), K1 (kiếm N1) hay phóng lợn” thì M nói “cái gì cũng được”. Lúc này, L đang ở quán của Bùi Huy H4 ở xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng cùng với Nguyễn Thái H1 và Phạm Văn T5. Học, T5, H4 có nghe thấy L nói chuyện về việc M rủ đi đánh K nên đồng ý đi cùng.
Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H1 gọi điện thoại bảo Phạm Thế A đến nhà H1 lấy kiếm mang đến quán xăm của H4. Thế A điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B2-280.00 về nhà H1 lấy 01 thanh kiếm, khi đi qua khu vực cánh đồng thuộc thôn H, xã V, huyện V, Thế A giấu kiếm vào bụi cỏ ven đường rồi đi đến quán của H4. Tại đây, L, H1, T5, H4 và Thế A cùng nhau đi đến Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên huyện V với mục đích đánh K. Khi đi, T5 điều khiển xe Wave (không đeo biển kiểm soát) chở L, H1 điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B2-280.00 chở Thế A ngồi giữa, H4 ngồi cuối, cả nhóm đi đến một quán sửa xe ở xã V (không xác định được vị trí cụ thể, tên quán) thì H1 bảo Thế A đi lấy kiếm, Thế A quay lại cánh đồng thuộc thôn H, xã V, huyện V lấy kiếm rồi quay lại quán sửa xe ở xã V gặp L, Học, T5, H4. Khi Thế A cầm kiếm quay lại, T5 điều khiển xe Wave (không đeo biển kiểm soát) chở L, H1 điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B2-280.00 chở Thế A ngồi giữa cầm kiếm, H4 ngồi cuối. Cả nhóm đi đến cổng Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp và Gáo dục thường xuyên huyện V thì gặp M và Quốc A1 mỗi người đi một xe. Cả nhóm đứng đợi nhưng không thấy K đi ra, M bảo cả nhóm đi lên Quốc lộ C, đoạn cầu L chờ đánh K. T5 điều khiển xe Wave không đeo biển kiểm soát chở L, H1 điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B2-280.00 chở Thế A ngồi sau cầm kiếm, H4 điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu HK BIKE CAP.A2 chở Quốc A1, còn M một mình điều khiển xe máy điện nhãn hiệu ESPERO GOOD-F2. Khi đang đi trên Quốc lộ C thuộc địa phận Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng thì M chỉ về phía K nói với cả nhóm “nó đi xe sirius đằng sau”. Thấy vậy, T5 điều khiển xe ép xe của K vào lề đường, L túm cổ, đấm K. Lúc này, Vũ Đức B, sinh ngày 18-10-2007 ở thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng là bạn K vào can ngăn thì bị T5, L, M, H1, Quốc A1, Thế A và H4 dùng chân, tay đánh K và B. H1 dùng kiếm chém 01 nhát sượt vào mang tai trái của K, L lấy kiếm từ tay H1 chém 01 nhát vào đầu B khi B đang đội mũ bảo hiểm. Khi nhóm của L đang đánh K và B thì nghe có người hô “Công an đến” nên nhóm của L dừng lại rồi bỏ đi, Phạm Thế A mang kiếm về nhà cất giấu. Ngày 02-12-2023 Phạm Thế A tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V thanh kiếm cán liền chuôi bằng kim loại tối màu dài 114cm, chuôi kiếm hình trụ tròn rỗng dài 36cm, lưỡi kiếm nhọn một đầu, bản rộng nhất 3,9cm. Ngày 14-12-2023, Phạm Quốc A1 giao nộp xe đạp điện nhãn hiệu HK BIKE CAP.A2, Trịnh Đức M giao nộp xe máy điện nhãn hiệu ESPERO GOOD-F2 và Phạm Thế A giao nộp xe môtô biển kiểm soát 15B2-280.00 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V.
Kết luận giám định tổn thương trên người sống số 912/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 19-12-2023 của Trung tâm P về thương tích của Phạm Văn K kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn K, sinh năm 2008 tại thời điểm giám định là 02%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương vùng dái tai trái gây nên là 01%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương bình tai trái gây nên là 01%; Vết sưng nề vùng thái dương chẩm phải đã khỏi, không để lại dấu vết, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Vết thương vùng dái tai trái và bình tai trái có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên. Vết sưng nề vùng thái dương chẩm phải có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên. Các thương tích trên nếu không được cấp cứu kịp thời cũng không gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân. Kiếm có đặc điểm mà Cơ quan Cảnh sát điều tra cung cấp thì có thể gây ra được vết thương vùng dái tai trái và bình tai trái của nạn nhân”.
Kết luận giám định tổn thương trên người sống số 913/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 19-12-2023 của Trung tâm P về thương tích của Vũ Đức B kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Đức B, sinh năm 2007 tại thời điểm giám định là 05%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương vùng thái dương đỉnh phải gây nên là 01%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương xây xước da mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải gây nên là 02%; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương chấn động não điều trị ổn định gây nên là 02%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên. Các thương tích trên nếu không được cấp cứu kịp thời cũng không gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân. Kiếm có đặc điểm mà Cơ quan Cảnh sát điều tra cung cấp cũng có thể gây nên được các thương tích trên".
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 14 ngày 01 tháng 02 năm 2024; Quyết định khởi tố bị can số 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42 ngày 01 tháng 02 năm 2024 đối với Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4 về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 10 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4 về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4; áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Trịnh Đức M và Phạm Quốc A1; áp dụng thêm Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn T5, Trịnh Thành L, Nguyễn Thái H1; áp dụng điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1;
Tuyên bố các bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4 đồng phạm tội Gây rối trật tự công cộng, xử phạt:
- - Trịnh Đức M 33 (Ba mươi ba) tháng tù; Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Bùi Huy H4 mỗi bị cáo 30 (Ba mươi) tháng tù; Phạm Quốc A1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt các bị cáo thi hành án.
- - Phạm Văn T5 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02-02-2024.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, giải quyết về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Trịnh Đức M, Bùi Huy H4, Phạm Quốc A1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1 kháng cáo xin hưởng án treo; người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Thành L– bà Nguyễn Thị Â, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn T5– bà Phạm Thị H3 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trịnh Thành L và Phạm Văn T5.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo có kháng cáo có mặt tại phiên tòa giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày nội dung vụ việc, khai nhận hành vi phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và bản án sơ thẩm; đồng thời, tất cả các bị cáo nộp thêm biên lai thể hiện đã nộp tiền án phí sơ thẩm.
Các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1 cung cấp được thêm các tài liệu, chứng cứ mới như: Đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo của gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương. Ngoài ra, bị cáo Phạm Thế A còn cung cấp thêm tài liệu thể hiện gia đình có ông nội là đảng viên bộ đội chống Pháp và có bác ruột tham gia quân đội, có nhiều thành tích xuất sắc, hiện đã nghỉ hưu. Bị cáo Nguyễn Thái H1 có ông nội là người có công với cách mạng.
Các bị cáo Trịnh Đức M, Bùi Huy H4, Phạm Văn T5, Trịnh Thành L không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ hành vi phạm tội, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và xử phạt các bị cáo mức án và tội danh là đúng pháp luật. Khi phạm tội, các bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5 đều là người dưới 18 tuổi nên khi quyết định mức hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định.
Xét kháng cáo của các bị cáo, nhận thấy: Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1 cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới, có đơn bảo lãnh của chính quyền địa phương, các bị cáo Trịnh Đức M, Bùi Huy H4, Trịnh Thành L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới. Nhận thấy, các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1 có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự nên có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1 hưởng án treo. Các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Trịnh Đức M, Bùi Huy H4 và người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Thành L – bà Nguyễn Thị Â, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn T5 – bà Phạm Thị H3, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Trịnh Đức M, Trịnh Thành L, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
*Người bào chữa cho các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo là người dưới 18 tuổi phát biểu quan điểm thống nhất: Không tranh luận về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và bản án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng cho các bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Bùi Huy H4 được hưởng án treo; giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Trịnh Thành L, Phạm Văn T5 xin được để các bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
Nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo: Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Bùi Huy H4 và người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Thành L – bà Nguyễn Thị Â, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn T5– bà Phạm Thị H3 trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo bản án sơ thẩm nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử quyết định vắng mặt những người này là có căn cứ.
- Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Do có mâu thuẫn, khoảng 17 giờ ngày 01 tháng 12 năm 2023, Trịnh Thành L, Nguyễn Thái H1, Trịnh Đức M, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5, Bùi Huy H4 sử dụng 02 xe môtô và 02 xe máy điện, cầm theo kiếm di chuyển trên Quốc lộ C đi tìm Phạm Văn K để đánh. Khi đến địa phận thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng, các đối tượng gặp Phạm Văn K và Vũ Đức B đang đi xe môtô nên nhóm của L đã ép xe của K lại, dùng kiếm chém làm Phạm Văn K bị tổn thương cơ thể 2%, Vũ Đức B bị tổn thương cơ thể 5%.
Hành vi của các bị cáo đã làm ảnh hưởng, đe dọa, phá vỡ trạng thái bình yên, ổn định của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, kỷ cương, khiến cho người dân, cộng đồng dân cư hoang mang, lo sợ, phẫn nộ, vi phạm quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành, xâm phạm đến những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức được mọi người tôn trọng, thừa nhận và tuân thủ.
Hành vi của các bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo không ai kháng cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo: Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Bùi Huy H4 và yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trịnh Đức M, Phạm Quốc A1, Bùi Huy H4 và người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Thành L– bà Nguyễn Thị Â, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn T5 – bà Phạm Thị H3: Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò của từng bị cáo là có cơ sở.
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trịnh Đức M có hành vi rủ Phạm Quốc A1 (16 tuổi 04 tháng 12 ngày) và Trịnh Thành L (16 tuổi 10 tháng 21 ngày), Quốc A1 có hành vi rủ L (16 tuổi 10 tháng 21 ngày), Nguyễn Thái H1 có hành vi rủ Phạm Thế A(17 tuổi 01 tháng 05 ngày) đi đánh K nên Trịnh Đức M, Phạm Quốc A1, Nguyễn Thái H1 phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”, quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Trịnh Thành L, Phạm Văn T5, Phạm Thế A và Bùi Huy H4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định và đánh giá có căn cứ các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo: Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1 đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Văn T5 và Trịnh Thành L có ông ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, hạng N2, bị cáo Nguyễn Thái H1 có ông ngoại là Cựu chiến binh được tặng giấy khen, vì vậy các bị cáo T5, L, H1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4.3] Khi phạm tội, các bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5 đều là người dưới 18 tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định đối với người đủ 18 tuổi trở lên là có căn cứ và phù hợp với pháp luật. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá và quyết định mức hình phạt phù hợp, tương xứng với vai trò, nhân thân của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[5] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá mức hình phạt đối với từng bị cáo căn cứ tính chất, mức độ, vai trò, nhân thân của từng bị cáo là tương xứng và đúng quy định của pháp luật.
[5.1] Các bị cáo Bùi Huy H4 và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Trịnh Đức M, Nguyễn Thái H1, Trịnh Thành L, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1, Phạm Văn T5 đã tự nguyện tự nguyện thi hành xong số tiền án phí sơ thẩm.
[5.2] Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1, Phạm Thế A cung cấp tình tiết mới gồm: Đơn xin bảo lĩnh cho các bị cáo được hưởng án treo của gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương cam đoan giám sát, giáo dục các bị cáo. Bị cáo Phạm Thế A cung cấp thêm tài liệu về gia đình có ông nội là đảng viên bộ đội chống Pháp và có bác ruột tham gia quân đội, có nhiều thành tích xuất sắc, hiện đã nghỉ hưu. Bị cáo Nguyễn Thái H1 có ông nội là người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1 khi phạm tội đều là người dưới 18 tuổi đang là học sinh; phạm tội với vai trò thứ yếu, giai đoạn sơ thẩm các bị cáo và gia đình các bị cáo đã bồi thường cho cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, thể hiện ý thức ăn năn hối cải cải. Xét các bị cáo Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1, Phạm Thế A đều đủ điều kiện được hưởng án treo, để tạo cơ hội cho các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1 có cơ hội sửa chữa sai lầm, do có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và không có hành vi vi phạm nào khác, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1 được hưởng án treo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[5.2] Đối với các bị cáo Trịnh Đức M, Trịnh Thành L, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4: Xét thấy, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú phải phối hợp cùng gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó trong thời gian thi hành quyết định của Tòa án song tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trịnh Đức M, Trịnh Thành L và Bùi Huy H4 không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới, không có bảo lĩnh, không có cam kết, xác nhận của gia đình hay của chính quyền, nhà trường, đoàn thể trong việc bảo đảm sự giám sát, giáo dục các bị cáo Trịnh Đức M và Bùi Huy H4.
[5.3] Hơn nữa, trong vụ án bị cáo Trịnh Đức M là người có vai trò cao nhất, là người trực tiếp rủ rê, lôi kéo các bị cáo tham gia thực hiện tội phạm. Bị cáo Phạm Văn T5 hiện đã bị xét xử tại Hải Dương cùng về hành vi Gây rối trật tự công cộng và mức án cao hơn mức hình phạt tại bản án này; bị cáo Trịnh Thành L hiện đang bị truy tố và tạm giam về hành vi phạm tội khác; bị cáo Phạm Huy H6 khi phạm tội đã đủ 18 tuổi và chỉ có một tình tình giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện để hưởng án treo và giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Trịnh Đức M, Bùi Huy H4 và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Thành L– bà Nguyễn Thị Â, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn T5 – bà Phạm Thị H3; cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Trịnh Đức M, Trịnh Thành L, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4 là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; các bị cáo được chấp nhận kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trịnh Đức M, Bùi Huy H4 và người đại diện hợp pháp của bị cáo Trịnh Thành L – bà Nguyễn Thị Â, người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Văn T5 – bà Phạm Thị H3, giữ nguyên hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo Trịnh Đức M, Trịnh Thành L, Phạm Văn T5, Bùi Huy H4; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trịnh Đức M, Trịnh Thành L, Phạm Văn T5 và Bùi Huy H4; áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trịnh Thành L, Trịnh Đức M; áp dụng thêm Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trịnh Đức M, Trịnh Thành L, Phạm Văn T5; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn T5, Trịnh Thành L; áp dụng điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trịnh Đức M; áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Thế A, Nguyễn Thái H1, Phạm Quốc A1.
Tuyên bố các bị cáo Trịnh Đức M, Trịnh Thành L, Phạm Văn T5, Bùi Huy H4, Nguyễn Thái H1, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1 đồng phạm tội Gây rối trật tự công cộng, xử phạt:
- + Trịnh Đức M 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Trịnh Thành L 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Phạm Văn T5 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 02 tháng 02 năm 2024.
- + Bùi Huy H4 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- + Nguyễn Thái H1 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, tính từ khi tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thái H1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
- + Phạm Thế A 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, tính từ khi tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Thế A cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
- + Phạm Quốc A1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, tính từ khi tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Quốc A1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách..."
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm) không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giuảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trịnh Đức M, Bùi Huy H4, Trịnh Thành L và Phạm Văn T5, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo: Trịnh Đức M, Trịnh Thành L và Phạm Văn T5 chưa đủ 18 tuổi nên đại diện hợp pháp cho các bị cáo Trịnh Đức M, Trịnh Thành L và Phạm Văn T5 phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm thay các bị cáo. Các bị cáo Nguyễn Thái H1, Phạm Thế A, Phạm Quốc A1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thúy |
Bản án số 149/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm về tội gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 149/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Đức M và đồng phạm gây rối trật tự công cộng
