|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 149/2024/DS-ST
Ngày: 26 - 9 - 2024.
V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Tuấn Khanh.
Ông Nguyễn Văn Hiếu.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 296/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 184/2024/QĐST- DS ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh ngày 07/10/1967 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Bà Lê Thị G, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.
Bà G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 29/8/2024.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2024, bản tự khai ngày 15/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:
Nguyên từ năm 2021 đến năm 2022 do có quan hệ quen biết, tin tưởng lẫn nhau nên bà có cho bà G tham gia chơi hụi, bà làm chủ hụi, bà G là hụi viên. Trong thời gian tham gia chơi hụi, bà G đã hốt tất cả các dây hụi và nợ bà tổng số tiền hụi chết là 175.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi lăm triệu đồng) và hai bên có làm 01 Tờ cam kết ngày 06/02 (âm lịch), không ghi năm. Khi đó, bà G hứa ngày 20 hàng tháng (âm lịch) sẽ trả cho bà 3.000.000 đồng. Sang năm 2024 sẽ trả cho bà 4.000.000 đồng đến khi nào hết số tiền nợ nêu trên. Thời gian thực hiện: Từ tháng 02/2023. Hai bên có viết giấy cam kết và ký tên.
Tuy nhiên, kể từ khi cam kết đến nay, bà G không thực hiện đúng cam kết, bà G chỉ trả cho bà được tổng số tiền là: 35.000.000 đồng. Hiện bà G còn nợ bà số tiền là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng). Dù nhiều lần đến đòi nhưng bà G vẫn chưa trả được nợ.
Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Đại xem xét giải quyết: Buộc bà Lê Thị G cùng chồng là ông Nguyễn Văn K phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà tổng số tiền nợ hụi là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi, yêu cầu trả nợ một lần.
Tại phiên Tòa: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, không thay đổi gì.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 29/8/2024, bị đơn bà Lê Thị G trình bày:
Bà thừa nhận hiện còn nợ bà H số tiền hụi sau khi hai bên kết nợ lại là 175.000.000 đồng, bà đã trả được 35.000.000 đồng, nên hiện còn nợ lại 140.000.000 đồng.
Nay bà xin bà H cho trả dần mỗi tháng là 3.000.000 đồng, bắt đầu thực hiện từ tháng 9/2024 dương lịch cho đến khi trả hoàn tất nợ. Do hoàn cảnh hiện đang khó khăn, vì thiếu nợ nhiều người, phải đi bán vé số để kiếm sống.
* Đối với ông Nguyễn Văn K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng ông K đều vắng mặt, mặc dù ông K vẫn còn sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai của ông K.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tuân theo đúng quy định của pháp luật. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên Tòa là không thực hiện theo quy định tại Điều 70, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc bà G và ông K có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H số tiền nợ hụi 140.000.000 đồng và ghi nhận sự tự nguyện bà H không yêu cầu tính lãi suất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1]. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị G có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử, nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt ông bà là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Từ năm 2021 đến năm 2022, bà G tham gia chơi hụi do bà H làm chủ hụi và còn nợ lại là 140.000.000 đồng cho đến nay vẫn chưa trả. Nay bà H khởi kiện yêu cầu bà G và ông K có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi là 140.000.000 đồng và không tính lãi suất. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo Đơn xin xác nhận ngày 03/5/2024 của Công an xã Định Trung, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xác nhận bà Lê Thị G, ông Nguyễn Văn K có đăng ký thường trú và sinh sống tại ấp Cả Nhỏ, xã Định Trung, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.
* Về nội dung:
- Xét yêu cầu khởi kiện của bà H buộc bà G và ông K có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ hụi 140.000.000 đồng và không tính lãi suất.
Cơ sở chứng cứ: Tờ cam kết ngày 06/02 (âm lịch), không ghi năm.
[4]. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời khai của nguyên đơn và bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa, đều xác định được giữa bà H và bà G có giao dịch chơi hụi với nhau và sau khi hai bên kết nợ lại thì bà G còn nợ bà H 175.000.000 đồng, sau đó từ tháng 2/2023 – tháng 01/2024 đã trả được 35.000.000 đồng, nên hiện còn nợ 140.000.000 đồng.
Bà G thừa nhận hiện còn nợ bà H 140.000.000 đồng, nay bà đồng ý trả, nhưng xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng. Lời thừa nhận này là tự nguyện, phù hợp với lời khai của nguyên đơn và chứng cứ do nguyên đơn giao nộp có trong hồ sơ vụ án, cụ thể là “Tờ cam kết ngày 06/02 (âm lịch), không ghi năm”.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và công nhận sự thật nêu trên.
Sau khi chơi hụi bà G đều đã hốt hụi ở tất cả các dây hụi và nhận đủ tiền hốt hụi do bà H giao, nhưng bà G đã không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi chết lại cho bà H đầy đủ, nên bà H làm chủ hụi đã thực hiện nghĩa vụ choàng hụi, nộp thay các phần hụi chết cho bà G. Vì vậy, nay bà G phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà H số tiền hụi đã góp thay cho bà G, sau khi hai bên kết nợ lại và hiện còn nợ là 140.000.000 đồng, bà G chưa thanh toán đầy đủ cho phía bà H là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo quy định tại Điều 16, 18, 24 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu bà G trả nợ hụi là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về lãi suất:
Bà H chỉ yêu cầu trả vốn số nợ hụi 140.000.000 đồng và không yêu cầu trả lãi suất. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bà và phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6]. Xét yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn K có nghĩa vụ liên đới trả nợ:
Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ theo Trích lục Giấy kết hôn giữa bà G và ông K thể hiện ông bà có đăng ký kết hôn vào năm 2001, nên bà G và ông K là vợ chồng hợp pháp. Đồng thời bà G thừa nhận, mục đích bà làm chủ hụi để kiếm tiền hoa hồng sinh hoạt chi tiêu trong gia đình, bà chơi hụi của bà H để hốt hụi lấy tiền choàng hụi do bà làm chủ hụi; bà là lao động chính trong gia đình. Khi sự việc bể hụi, ông K chồng bà có biết nhưng không biết nợ ai cụ thể bao nhiêu và ông cũng nói ráng đi làm thuê để kiếm tiền trả nợ. Vì vậy, nợ chung này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, nên buộc ông K có nghĩa vụ liên đới trả nợ là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 27, 30, khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Xét yêu cầu xin trả dần của bà G:
Bà G xin được trả dần mỗi tháng là 3.000.000 đồng, bắt đầu thực hiện từ tháng 9/2024 dương lịch cho đến khi trả hoàn tất nợ. Do hoàn cảnh hiện đang khó khăn, vì thiếu nợ nhiều người, phải đi bán vé số để kiếm sống, nhưng bà H không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là sự thỏa thuận của các đương sự tại giai đoạn thi hành án, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[8]. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện của bà H được chấp nhận toàn bộ, nên bà G và ông K phải liên đới chịu chịu án phí của số tiền 140.000.000 đồng là:
140.000.000 đồng x 5% = 7.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 27, 30, khoản 2 Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 16, 18, 24 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H đối với bà Lê Thị G và ông Nguyễn Văn K về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
- Buộc bà Lê Thị G và ông Nguyễn Văn K phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Huỳnh Thị H số tiền nợ hụi là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Huỳnh Thị H không yêu cầu trả lãi suất của số tiền nêu trên.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Bà Lê Thị G và ông Nguyễn Văn K phải liên đới chịu là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
- Bà Huỳnh Thị H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001976 ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Huỳnh Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bà Lê Thị G và ông Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Mỹ Duyên |
Bản án số 149/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 149/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Đại xem xét giải quyết: Buộc bà Lê Thị G cùng chồng là ông Nguyễn Văn K phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà tổng số tiền nợ hụi là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng) và không yêu cầu tính lãi, yêu cầu trả nợ một lần.
