Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/HS-ST

Ngày 20/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Đình Chế, ông Tô Huy Bân.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh B tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 12/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 06/8/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Ngô Văn T, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M, sinh năm 1963 và con bà Vũ Thị N, sinh năm 1960; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; có vợ là Lường Thị L, sinh năm 1995 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2019.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án: Tại Bản án số 19/2022/HSST ngày 03/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt Ngô Văn T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong bản án, ra trại ngày 20/5/2023.

- Nhân thân: Tại Bản án số 46/2016/HSST ngày 30/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt Ngô Văn T 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 09/01/2018.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Hà Quốc A, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Quốc P, sinh năm 1975 và con bà Hoàng Thị H, sinh năm 1982; gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có;

Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại Bản án số 145/2022/HSST ngày 15/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Hà Quốc A 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong bản án, ra trại ngày 31/8/2023.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

Người tham gia tố tụng khác:

1. Cán bộ Tin học Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

2. Cán bộ Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.

(Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 02/4/2024, tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã L kiểm tra, bắt quả tang Hà Quốc A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

T1 tại túi quần của Quốc A 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. Quốc A khai nhận đây là ma túy heroine do Quốc A mua của Ngô Văn T với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ngô Văn T.

Tiến hành thu giữ:

- Tại túi quần phía trước bên trái của T 01 túi nilon màu trắng bên trong có 10 gói giấy màu trắng mở ra bên trong đều chứa chất bột màu trắng.

- Tại túi quần phía sau của T 02 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng.

- 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu xanh, gắn sim số 0395.474.226.

- Tại đầu giường ngủ phòng trọ của T có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 01 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng.

T khai nhận đây là các gói ma túy heroine T mua về bán kiếm lời.

Tại bản Kết luận giám định số 930/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư không có ký hiệu có khối lượng là 0,1298 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).

- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M có khối lượng là 0,6758 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).

- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng là 0,0724 gam; Là ma túy; Loại ma túy: H (Heroine).

Heroine (Heroine) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Tại Bản Cáo trạng số 118/CT-VKS-YP ngày 12/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Hà Quốc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Các bị cáo Quốc A và bị cáo T khai nhận: Sáng ngày 01/4/2024, T đi bộ ra khu vực gầm cầu thuộc thôn N, xã L mua của một người thanh niên không quen biết 12 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng. T để 01 gói ma túy ở phòng trọ và mang theo 11 gói ma túy đi ra ngoài nếu ai hỏi mua thì bán. Khi T đi bộ tại thôn N, xã L thì gặp Hà Quốc A, Quốc A hỏi T “Anh có ma túy heroine không, bán cho em 200.000 đồng”, T trả lời: “Có”. Quốc A đưa cho T 200.000 đồng, T đưa lại cho Quốc A 01 gói ma túy. Quốc A cầm gói ma túy để đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an kiểm tra và bắt quả tang.

Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố là đúng người, đúng tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Hà Quốc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

-Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Ngô Văn T từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2024.

Áp dụng khoản điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật hình sự xử phạt: Hà Quốc A từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 930/KL – KTHS, ngày 04/4/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh B; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo T 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu xanh, gắn sim số 0395.474.226 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T, bị cáo Quốc A.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Ngô Văn T có hành vi bán trái phép 0,1298 gam ma túy Heroine cho Hà Quốc A với giá 200.000 đồng. Ngoài ra, Ngô Văn T còn tàng trữ trái phép 0,7482 gam ma túy heroine với mục đích để bán kiếm lời, tổng khối lượng ma túy heroine là 0,878gam. Hà Quốc A có hành vi tàng trữ trái phép 0,1298 gam ma túy heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo T mua chất ma túy, bán trái phép cho bị cáo Quốc A để kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Quốc A mua chất ma túy để sử dụng cho bản thân đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra ma túy là chất gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Bản thân bị cáo cũng hiểu biết về tác hại của ma túy cũng như những quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với tất cả các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn vi phạm, vì vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo T: Tại Bản án số 46/2016/HSST ngày 30/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt Ngô Văn T 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 09/01/2018, đã được xóa án tích.

Tại Bản án số 19/2022/HSST ngày 03/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt Ngô Văn T 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong bản án, ra trại ngày 20/5/2023. Bản án trên bị cáo chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội mới do cố ý.

Đối với bị cáo Quốc A: Tại Bản án số 145/2022/HSST ngày 15/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Hà Quốc A 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong bản án, ra trại ngày 31/8/2023. Bản án trên bị cáo chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội mới do cố ý.

Do vậy các bị cáo đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân như phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 930/KL – KTHS, ngày 04/4/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh B; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu là những vật liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với số tiền 200.000 đồng do T bán ma túy cho Quốc A, đây là số tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Đối 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu xanh, gắn sim số 0395.474.226 là vật không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo T nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T, bị cáo Quốc A.

[3] Những vấn đề khác:

Trong vụ án này, người đàn ông đã bán ma túy cho T nhưng T không biết tên, tuổi cũng như địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với anh Nguyễn Xuân L1 là chủ nhà trọ nơi T thuê trọ, anh L1 không biết T tàng trữ ma túy tại phòng trọ, vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xử lý đối với anh L1 là phù hợp.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra nhanh ma túy đối với bị cáo, kết quả xác định các bị cáo dương tính với ma túy. Do các bị cáo không nhớ địa điểm sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra chưa xử lý. Khi nào làm rõ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy sẽ xử lý sau.

[4] Về án phí: Bị cáo Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Quốc A thuộc diện cận hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quốc A.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Tuyên bố bị cáo Hà Quốc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2.Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Ngô Văn T 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2024

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Quốc A 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2024.

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Quyết định tạm giam bị cáo Ngô Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Quyết định tạm giam bị cáo Hà Quốc A 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong dán kín trên phong bì có ghi người nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 930/KL - KTHS, ngày 04/4/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh B; 02 phong bì niêm phong dán kín bên trong có que thử nước tiểu.

+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng.

+ Trả lại cho bị cáo Ngô Văn T 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu xanh, seri DX 3Z2228HG06, IMEI: 355357089946060, gắn sim số 0395.474.226 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong.

Theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản ngày 16/4/2024 tại Kho bạc Nhà nước huyện Y.

Lưu hồ sơ đĩa ghi âm về việc hỏi cung bị cáo T, bị cáo Quốc A

4.Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quốc A.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Báo cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • -VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • -VKSND huyện Yên Phong;
  • -Công an huyện Yên Phong;
  • -Trại tạm giam CA tỉnh
  • -Chi cục THADS huyện Yên Phong;
  • -Những người TGTT;
  • -Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn Thành, Hà Quốc Anh - MBTPCMT, TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger