Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/HS-ST
Ngày 20/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Hà – Cán bộ hưu.

2. Bà Nguyễn Thị Biên – Giáo viên nghỉ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Xuân Vượng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2024/QÐST – HS ngày 15/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn L, sinh năm 2007; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Văn hóa: 10/12; Bố: Đặng Văn T, sinh năm 1982; Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21/11/2022 bị UBND xã C, huyện L ban hành Quyết định số 133 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, thời hạn 03 tháng; đã chấp hành xong ngày 22/02/2023.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 09/11/2023 đến ngày 18/11/2023 được áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú nhưng bỏ trốn và bị truy nã. Ngày 31/5/2024, bị can đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam; hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh B, (Có mặt tại phiên tòa).

- Đại diện hợp pháp của bị cáo L:

Ông Đặng Văn T, sinh năm 1982, (Có mặt).

Nơi thường trú: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở hiện tại: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người bào chữa cho bị cáo L:

- Luật sư Ong Thị T2, Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh B, (Có đơn xin xử vắng mặt).

- Luật sư Ngô Thị T3 – Luật sư, Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh B, (Có mặt).

Địa chỉ: Số D, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. An Ngọc T4, sinh ngày 30/12/2003, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Hoàng Văn Q, sinh ngày 28/02/2005, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn Nghĩa An, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  3. Lương Quốc N, sinh ngày 04/7/2005, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn Thanh Sơn, xã Đông Phú, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  4. Nguyễn Trung A, sinh ngày 11/9/2005, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  5. Vũ Trí Hữu T5, sinh ngày 28/11/2005, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  6. Đỗ Đình P, sinh ngày 21/6/2006, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn Nghè 1, xã Tiên Nha, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  7. Văn Khắc Tiến B, sinh ngày 18/10/2007, (Vắng mặt).
    Đại diện hợp pháp của Văn Khắc Tiến B:
    Bà Phạm Thị K, sinh năm 1989, (Vắng mặt).
    Đều cư trú: Thôn 17, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  8. Hoàng Thế A1, sinh ngày 25/7/2006, (Vắng mặt).
    Đại diện hợp pháp của Hoàng Thế A1:
    Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1977, (Vắng mặt).
    Đều cư trú: Tổ dân phố Thân Phú, thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  9. Trần Văn T6, sinh ngày 17/12/2005, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  10. Lưu Quốc H, sinh ngày 23/12/2006, (Vắng mặt).
    Đại diện hợp pháp của Lưu Quốc H:
    Bà Phạm Thị T7, sinh năm 1984, (Vắng mặt).
    Đều cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  11. Giáp Văn V, sinh ngày 26/9/2007, (Vắng mặt).
    Đại diện hợp pháp của Giáp Văn V:
    Bà Vũ Thị T8, sinh năm 1983, (Vắng mặt).
  12. Đều cư trú: Thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  13. Hoàng Văn T9, sinh ngày 21/6/2007, (Vắng mặt).
    Đại diện hợp pháp của Hoàng Văn T9:
    Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1981, (Vắng mặt).
    Đều cư trú: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  14. Trương Quốc B1, sinh ngày 23/11/2005, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  15. Phạm Văn Q1, sinh ngày 15/12/2005, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  16. Phạm Văn L1, sinh ngày 15/11/2005, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  17. Nguyễn Đình D, sinh ngày 03/5/2006, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  18. Giáp Minh T10, sinh ngày 30/3/2006, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  19. Hoàng Quang H1, sinh ngày 13/9/2007, (Vắng mặt).
    Đại diện hợp pháp của Hoàng Quang H1:
    Ông Hoàng Văn T11, sinh năm 1982, (Vắng mặt).
    Đều cư trú: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  20. Anh Nguyễn Bá P1, sinh ngày 28/11/2007, (Vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
    Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Bá H2, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, (Đều vắng mặt).
  21. Anh Đỗ Anh T12, sinh ngày 10/01/2008, (Vắng mặt).
    Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị H3, sinh năm 1987.
    Đều nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, (Vắng mặt).

* Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang: Chị Phạm Thị Thu H4, Bí thư đoàn xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, (Có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 03/11/2023, Đặng Văn L, sinh ngày 15/01/2007, trú tại thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng Vũ Trí Hữu T5, sinh ngày 28/11/2005; Phạm Văn L1, sinh ngày 15/11/2005; Hoàng Văn T9, sinh ngày 21/6/2007; An Ngọc T4, sinh ngày 30/12/2003; Lương Quốc N, sinh ngày 04/7/2005; Hoàng Văn Q, sinh ngày 28/02/2005; Nguyễn Trung A, sinh ngày 11/9/2005; Hoàng Thế A1, sinh ngày 25/7/2006; Trương Quốc B1, sinh ngày 23/11/2005; Hoàng Quang H1, sinh ngày 13/9/2007; Văn Khắc Tiến B, sinh ngày 18/10/2007; Giáp Minh T10, sinh ngày 30/3/2006; Đặng Văn L, sinh ngày 15/01/2007; Nguyễn Đình D, sinh ngày 03/5/2006; Trần Văn T6, sinh ngày 17/12/2005; Đỗ Đình P, sinh ngày 21/6/2006; Phạm Văn Q1, sinh ngày 15/12/2005; Giáp Văn V, sinh ngày 29/6/2007; Lưu Quốc H, sinh ngày 23/12/2006; Nguyễn Bá P1, sinh ngày 28/11/2007; Đỗ Anh T12, sinh ngày 10/01/2008 đều trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang đi chơi thì gặp nhau. Sau khi gặp nhau, cả nhóm rủ nhau đi xe máy đi đến thành phố B bốc đầu xe. Mọi người trong nhóm chia ra đi trên các xe mô tô cùng nhau. Tất cả gồm 21 người đi trên 10 xe máy cùng nhau xuất phát từ vòng xuyến ngã 05 thị trấn Đ, huyện L. Cả nhóm đi theo đường tỉnh lộ 293 hướng về thành phố B. Lam ngồi sau xe mô do Nguyễn Bá P1 điều khiển. Trên đường đi, mọi người đi nối đuôi nhau, dàn hàng ngang, di chuyển với tốc độ cao vừa đi vừa bấm còi và lạng lách, đánh võng gây nguy hiểm. Khi đi đến thành phố B, cả nhóm điều khiển xe nối đuôi nhau dàn hàng ngang đi vào đường H di chuyển với tốc độ cao, bấm còi gây mất trật tự. Khi đi trên đường H đoạn đối diện Quảng trường 3/2 thì B, T5, P, H, P1 chở L điều khiển xe rú ga, bốc đầu. Những người còn lại cũng rú ga, bấm còi gây mất trật tự công cộng.

Cả nhóm tiếp tục phóng nhanh vượt đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư đường H và đường H rồi đi vào đường H hướng ra đường tỉnh lộ 293. Khi đi đoạn gần khu vực siêu thị G thì gặp một nhóm gồm 6 thanh niên (không xác định được) đi trên 03 xe mô tô hướng ngược chiều. T5 và T4 bảo mọi người quay lại đuổi theo thì cả nhóm cùng quay xe đuổi theo nhóm thanh niên này đến trung tâm thành phố B nhưng không đuổi kịp nên quay lại đường tỉnh lộ 293 để đi về huyện L.

Khi đi đến đoạn khu vực gần cây xăng trên đường T, mọi người xuống xe đi đến một khu đô thị đang xây dựng ở bên phải đường lấy hung khí để tiếp tục tìm nhóm thanh niên trước đó để đánh nhưng do không tìm thấy nên cả nhóm quay về. Cả nhóm đi ra đường B đến địa phận thôn S, xã Đ, thành phố B thì vứt hết hung khí xuống sườn đường rồi tiếp tục điều khiển xe đi với tốc độ cao, lạch lách đánh võng, dàn hàng ngang, bấm còi và bốc đầu đi về thị trấn Đ, huyện L sau đó đi về nhà.

Sau khi sự việc xảy ra, UBND xã T, UBND phường H và UBND phường N, thành phố B đã có văn bản đề nghị Công an thành phố B xử lý các đối tượng về hành vi gây rối trật tự công cộng vì gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn.

Quá trình điều tra, Đặng Văn L bỏ trốn khỏi địa phương và bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra quyết định truy nã. Ngày 31/5/2024, L đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Đối với các bị can An Ngọc T4, Hoàng Văn Q, Lương Quốc N, Nguyễn Trung A, Vũ Trí Hữu T5, Hoàng Thế A1, Trương Quốc B1, Hoàng Văn T9, Hoàng Quang H1, Văn Khắc Tiến B, Giáp Minh T10, Nguyễn Đình D, Phạm Văn L1, Trần Văn T6, Đỗ Đình P, Phạm Văn Q1, Giáp Văn V, Lưu Quốc H đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố theo Cáo trạng số 115 ngày 27/5/2024 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Đặng Văn L về tội: “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn L khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo khai là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra. Bị cáo không bị thu giữ gì trong quá trình điều tra.

Anh Đặng Văn T là đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Trong quá trình điều tra, truy tố anh thấy lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc gì.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Áp dụng b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 01 (Một) năm 08 (T13) tháng đến 01 (Một) năm 10 (M) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (Ba) năm 04 (Bốn) tháng đến 03 (Ba) năm 08 (Tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đặng Văn L cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Vật chứng của vụ án: Không.

3. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

- Luật sư Ngô Thị T3 trình bày lời bào chữa: Về tội danh, điều luật áp dụng không tranh luận gì. Đề nghị áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo L 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng thời gian thử thách 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo: Bị cáo đồng ý với quan điểm của luật sư T3 và không bổ sung thêm nội dung gì.

Đại diện hợp pháp của bị cáo anh Đặng Văn T: Đồng ý với quan điểm của luật sư T3 và không bổ sung thêm nội dung gì.

- Vị đại diện VKS tranh luận: Đây là vụ án đồng phạm, bị cáo L cũng đã có hành vi nhặt gậy (hung khí nguy hiểm) để đuổi đánh nhóm thanh niên khác nên không đồng ý với quan điểm của luật sư T3 về việc đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự có mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Buổi tối ngày 03/11/2023, Đặng Văn L cùng Hoàng Thế A1, Trương Quốc B1, An Ngọc T4, Hoàng Văn T9, Lương Quốc N, Hoàng Quang H1, Văn Khắc Tiến B, Hoàng Văn Q, Nguyễn Trung A, Giáp Minh T10, Nguyễn Đình D, Phạm Văn L1, Vũ Trí Hữu T5, Trần Văn T6, Đỗ Đình P, Phạm Văn Q1, Giáp Văn V, Lưu Quốc H cùng Nguyễn Bá P1, Đỗ Anh T12 (tổng số 21 người) đi trên 10 xe máy cùng nhau xuất phát từ thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi theo đường tỉnh lộ 293 đến thành phố B. Cả nhóm đi nối đuôi nhau, dàn hàng ngang, đi với tốc độ cao, bấm còi, bốc đầu xe và chạy lạng lách, đánh võng gây nguy hiểm trên đường và gây mất trật tự công cộng. Sau đó, cả nhóm nhặt gậy, gạch, đá, tấm ván gỗ ép, gậy gỗ, dây điện, chổi tre (là hung khí nguy hiểm) sử dụng làm hung khí truy đuổi để đánh nhóm thanh niên không quen biết đi trên đường nhưng không tìm thấy nên ra về. Trên đường đi về thị trấn Đ, huyện L, cả nhóm tiếp tục điều khiển xe đi với tốc độ cao, lạch lách đánh võng, dàn hàng ngang, bấm còi, một số người bốc đầu xe.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Bản cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Đặng Văn L là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân: Ngày 21/11/2022 bị UBND xã C, huyện L ban hành Quyết định số 133 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, thời hạn 03 tháng, đã chấp hành xong.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7] Về vai trò đồng phạm: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo và các đối tượng không có sự bàn bạc, không có sự phân công, việc phạm tội là hành vi bột phát nhất thời của bị cáo và các đối tượng.

[8] Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị của địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội đến khi xét xử sơ thẩm, bị cáo vẫn chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự để xem xét mức hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người chưa đủ 18 tuổi.

Do đó, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[9] Về Vật chứng: Không.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Trả tự do cho bị cáo Đặng Văn L tại phiên tòa và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 292; Điều 328; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Xử:

Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 01 (một) năm 09 (C1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đặng Văn L cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Không.

3. Về án phí: Bị cáo Đặng Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã Câm Lý, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Đình Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 20/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn L phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger