Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/HS-ST

Ngày: 18-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Ngọc Tiến
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thuý Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân

Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Thị Ngọc D; sinh ngày: 06/7/1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 3 đường C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 198 Cư xá đường sắt, L, Phường P, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H (chết) và bà: Thạch Thị H1; có 04 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến ngày 13/6/2024 thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Nguyễn Hoàng T; sinh ngày: 15/3/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 3 đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 3 đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1 (chết) và bà: Ngô Thị T2; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 tại nhà tạm giữ Công an Q.

3. Phạm Ngọc Quỳnh A; sinh ngày: 27/12/1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 292/11 đường B, Phường 1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 2 đường B, Phường 1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn D1 và bà: Phạm Thị Mai T3; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 tại nhà tạm giữ Công an Q.

(Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ ngày 06/6/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Thành phố H, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q và Công an P, Quận A kiểm tra hành chính nhà số C đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra phát hiện trong phòng ngủ tại tầng 1, bị cáo Nguyễn Hoàng T đang lưu trú và thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng T: 01 gói nylon chứa tinh thể, 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút, 01 quẹt gas. Bị cáo T khai nhận số tinh thể không màu là ma túy tổng hợp loại hàng đá, cất giữ để sử dụng cho bản thân. Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hoàng T, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q điều tra theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định tinh thể không màu thu giữ của Nguyễn Hoàng T. Kết luận giám định số 6965/KL-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0403gram, loại Methamphetamine".

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Nguyễn Hoàng T khai nhận, số ma túy Công an thu giữ, T mua của Trần Thị Ngọc D, địa chỉ: A Cư xá Đ, Phường A, Quận C với giá 1.000.000 đồng, vào khoảng 18 giờ ngày 06/6/2024. T đem về cất giữ để sử dụng. Trước đó, T đã mua ma túy của D được 03 lần mỗi lần mua từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.

Lúc 21 giờ ngày 06/6/2024, Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra nơi ở của Trần Thị Ngọc D, tại nhà số A Cư xá Đường S, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ của D: 01 hộp kim loại, ở vị trí phía dưới cầu thang ở tầng trệt của căn nhà, bên trong có: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 nỏ thủy tinh có gắn ống hút nhựa, 01 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 01 cân kim loại và 10 gói nylon. Bị cáo D khai số tinh thể không màu là ma túy tổng hợp loại hàng đá, D cất giữ để bán kiếm lời. Công an P, Quận C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Trần Thị Ngọc D, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trưng cầu giám định tinh thể không màu thu giữ của Trần Thị Ngọc D. Kết luận giám định số 6967/KL- KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,6239gram, loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Thị Ngọc D khai nhận, bắt đầu bán ma tuý từ tháng 01/2024, nguồn gốc ma túy D mua của một người tên T4, có Facebook tên “Tuyen Cherry” (không rõ lai lịch, địa chỉ), sau đó D chia thành các gói nhỏ để bán kiếm lời. D đã mua ma túy của T4 05 lần, trong đó, có 04 lần 10g ma túy đá với giá 3.800.000 đồng, 01 lần ma túy khay giá 2.800.000 đồng, địa điểm giao ma túy tại nhà của D, số 198 Cư xá đường sắt, L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. D mua, bán trái phép chất ma túy một mình, không có ai cùng tham gia phụ giúp. D đã bán ma túy cho Nguyễn Hoàng T được 04 lần, đúng như lời khai của T, ngoài ra D còn bán ma túy cho Phạm Ngọc Quỳnh A, địa chỉ: 2 Bà H, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và một số người khác (không rõ lai lịch), số tiền Duyên đã thu lợi bất chính được khoảng 8.500.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.

Lúc 01 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, Cơ quan Công an kiểm tra nhà số B đường B, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra phát hiện, Phạm Ngọc Quỳnh A, Vũ Minh T5 đang cư trú; thu giữ của Phạm Ngọc Quỳnh A: 01 gói nylon chứa tinh thể, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm: 01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa. Phạm Ngọc Quỳnh A khai nhận số tinh thể trên là ma túy tổng hợp loại hàng đá của Quỳnh A cất giữ để sử dụng cho bản thân. Công an P1, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Ngọc Quỳnh A, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trưng cầu giám định tinh thể không màu thu giữ của Phạm Ngọc Quỳnh A. Kết luận giám định số 6966/KL- KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2125g, loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Phạm Ngọc Quỳnh A khai, số ma túy bị thu giữ là của Quỳnh A mua của Trần Thị Ngọc D, vào tối ngày 05/6/2024 tại trước nhà số A Cư xá Đường S, Phường A, Quận C, với giá 500.000 đồng. Quỳnh A đã sử dụng một ít, phần còn lại cất giữ để sử dụng cho bản thân thì bị kiểm tra thu giữ. Trước đó, vào ngày 15/5/2024, Quỳnh A đã mua 01 gói ma túy của D với giá 3.300.000 đồng, số ma túy này Quỳnh A đã sử dụng hết. Việc Quỳnh A cất giữ ma túy thì Vũ Minh T5 không biết.

Vũ Minh T5 khai là anh họ của Phạm Ngọc Quỳnh A, anh T5 không biết và không liên quan đến số ma túy Quỳnh A cất giữ. Từ trước đến nay, T5 không sử dụng ma túy.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu tại Trung tâm Y tế Q1, Nguyễn Hoàng T, Phạm Ngọc Quỳnh A: “Dương tính” với chất ma túy; Vũ Minh T5 “Âm tính” với chất ma túy.

- Vật chứng vụ án:

  • + 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T6 và Cán bộ điều tra Nguyễn Trọng C, ghi số vụ 2100/24; bên trong chứa 2,5252g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T6 và Cán bộ điều tra Nguyễn Trọng C, ghi số vụ 2098/24, bên trong chứa 0,8451g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T6 và Cán bộ điều tra Nguyễn Trọng C, ghi số vụ 2099/24; bên trong chứa 0,1340gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
  • + 01 hộp kim loại, 01 nỏ thủy tinh có gắn ống hút nhựa, 01 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 01 cân kim loại và 10 gói nylon rỗng – bị cáo D dùng để đựng và sử dụng ma túy; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm: 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút và 01 quẹt gas - bị cáo T dùng để sử dụng ma túy; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm: 01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa bị cáo Quỳnh A dùng để sử dụng ma túy.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0768677868 của bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội, 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số thuê bao: 0932071217 của bị cáo Quỳnh A sử dụng vào việc phạm tội; 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0703466732 – là tài sản cá nhân của bị cáo T.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Tại Bản Cáo trạng số 122/CT-VKSQ10 ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Trần Thị Ngọc D về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Phạm Ngọc Quỳnh A về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải), bị cáo D đang điều trị ung thư; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Trần Thị Ngọc D từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, bị cáo Phạm Ngọc Quỳnh A từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung, tịch thu số tiền do phạm tội mà có 8.500.000 đồng của bị cáo D và đề nghị xử lý vật chứng.
  • - Ý kiến của các bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
  • Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Thị Ngọc D đã có hành vi bán ma túy nhiều lần cho Nguyễn Hoàng T, Phạm Ngọc Quỳnh A nhưng không cùng một thời điểm, tổng số ma túy bị cáo D cất giữ để bán cho người nghiện ma túy bị thu giữ là 3,8767g ma túy loại Methamphetamine. Do vậy, bị cáo Trần Thị Ngọc D bị truy tố và xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Nguyễn Hoàng T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,0403g ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Bị cáo Phạm Ngọc Quỳnh A đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2125g ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Do vậy, các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Phạm Ngọc Quỳnh A bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm nghiêm trọng đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo D đang điều trị bệnh ung thư nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo D đang điều trị bệnh ung thư. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tương ứng với từng bị cáo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

  • - Đối với 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T6 và Cán bộ điều tra Nguyễn Trọng C, bên trong chứa 2,5252g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T6 và Cán bộ điều tra Nguyễn Trọng C, bên trong chứa 0,8451g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T6 và Cán bộ điều tra Nguyễn Trọng C; bên trong chứa 0,1340gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu và tiêu huỷ.
  • Đối với 01 hộp kim loại, 01 nỏ thủy tinh có gắn ống hút nhựa, 01 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 01 cân kim loại và 10 gói nylon rỗng thu giữ của bị cáo D dùng để đựng và sử dụng ma túy; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm: 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút và 01 quẹt gas thu giữ của bị cáo T; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm: 01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa thu giữ bị cáo Quỳnh A dùng để sử dụng ma túy. Xét thấy đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nhưng không có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu và tiêu huỷ.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0768677868, thu giữ của bị cáo D; 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số thuê bao: 0932071217, thu giữ của bị cáo Quỳnh A. Xét thấy các bị cáo sử dụng làm phương tiện để phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0703466732 thu giữ của bị cáo T. Xét thấy đây là tài sản cá nhân không liên quan đến việc phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo T.
  • Đối với số tiền 8.500.000 đồng mà bị cáo D khai do phạm tội mà có nhưng đã tiêu xài hết, Hội đồng xét xử xét thấy đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, bị cáo duyên đã tiêu xài hết nên có trách nhiệm giao nộp lại.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào điểm b khoản 2, Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Thị Ngọc D;
  • Căn cứ vào điểm c khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Phạm Ngọc Quỳnh A;
  • Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ vào thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024 đến ngày 13/6/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Quỳnh A 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.

Miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc D giao nộp lại số tiền 8.500.000 (tám triệu năm trăm nghìn) đồng do phạm tội mà có.

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T6 và Cán bộ điều tra Nguyễn Trọng C, ghi số vụ 2100/24; bên trong chứa 2,5252g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T6 và Cán bộ điều tra Nguyễn Trọng C, ghi số vụ 2098/24, bên trong chứa 0,8451g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T6 và Cán bộ điều tra Nguyễn Trọng C, ghi số vụ 2099/24; bên trong chứa 0,1340gram ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).

Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 hộp kim loại, 01 nỏ thủy tinh có gắn ống hút nhựa, 01 ống hút nhựa cắt nhọn một đầu, 01 cân kim loại và 10 gói nylon rỗng thu giữ của bị cáo D; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm: 01 bình thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút và 01 quẹt gas thu giữ của bị cáo T. 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp gồm: 01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa thu giữ bị cáo Quỳnh A.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0768677868 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung có số thuê bao: 0932071217.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 điện thoại di động hiệu Iphone có số thuê bao 0703466732.

(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/10/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án;

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với các bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TPHCM; (2)
  • - VKSND Q.10; (1)
  • - Công an Q.10; (3)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • (7)
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Ngọc Duyên và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger