|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 149/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18-9-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Liêu Văn Lộc
- Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 242/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 248/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Ngọc G, sinh năm: 1982
- Bị đơn: Nguyễn Công N, sinh năm: 1976
Địa chỉ: ấp Bình An I, xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
Tạm trú: Ấp 3, xã An Hòa, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 18/6/2024, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc G trình bày:
- Về hôn nhân: bà và ông Nguyễn Công N chung sống từ năm 1999, kết hôn năm 2009, hôn nhân do tự tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 19/5/2009 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, sau khi uống rượu ông N thường đánh bà nên vợ chồng không còn hạnh phúc, bà và ông Nguyễn Công N đã không còn sống chung với nhau. Hiện nay bà không còn tình cảm với ông Nguyễn Công N nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Công N.
- Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Thị Yến N1, sinh ngày 15/3/2000, Nguyễn Nhựt D, sinh ngày 12/8/2010 và Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 22/9/2017. Cháu Yến N1 đã thành niên, bà G yêu cầu được nuôi cháu Nhựt T, đồng ý để ông N nuôi cháu Nhựt D, bà và ông N không cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Nguyễn Công N nhưng ông Nguyễn Công N đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Tại phiên tòa:
- Bà Nguyễn Ngọc Giàu C đơn xin xét xử vắng mặt, không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện.
- Ông Nguyễn Công N vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Ngọc G và ông Nguyễn Công N là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Thẩm quyền giải quyết: ông Nguyễn Công N đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Giàu C đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Công N đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: bà Nguyễn Ngọc G và ông Nguyễn Công N kết hôn năm 2009, hôn nhân do tự tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 19/5/2009 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà Nguyễn Ngọc G và ông Nguyễn Công N được đoàn tụ, nhưng bà Nguyễn Ngọc G cương quyết ly hôn và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Ông Nguyễn Công N vắng mặt tại phiên hòa giải và các phiên tòa chứng tỏ ông Nguyễn Công N cũng không có mong muốn được đoàn tụ. Như vậy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Ngọc G.
2.2 Về con chung: bà Nguyễn Ngọc G và ông Nguyễn Công N có có 03 con chung tên Nguyễn Thị Yến N1, sinh ngày 15/3/2000, Nguyễn Nhựt D, sinh ngày 12/8/2010 và Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 22/9/2017. Bà Nguyễn Ngọc Giàu C yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Nhựt T sau khi ly hôn, đồng ý để ông Nguyễn Công N nuôi cháu Nguyễn Nhựt D, riêng cháu Nguyễn Thị Yến N1 đã thành niên, ông Nguyễn Công N không có ý kiến gì về con. Nhận thấy hiện nay cháu Nguyễn Nhựt D và cháu Nguyễn Nhựt T còn nhỏ để tránh làm xáo trộn đời sống, ảnh hưởng đến việc học của các cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc G được quyền nuôi cháu Nguyễn Nhựt T, ông Nguyễn Công N được quyền nuôi cháu Nguyễn Nhựt D.
2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà Nguyễn Ngọc G và ông Nguyễn Công N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng của các bên.
2.4 Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
[3] Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Ngọc G là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc G.
- Về hôn nhân: bà Nguyễn Ngọc G được ly hôn ông Nguyễn Công N.
- Về con chung: bà Nguyễn Ngọc G được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 22/9/2017.
Ông Nguyễn Công N được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Nhựt D, sinh ngày 12/8/2010.
Bà Nguyễn Ngọc G và ông Nguyễn Công N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Ngọc G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004802 ngày 22/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc G và ông Nguyễn Công N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 149/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 149/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
