Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/HS-ST

Ngày: 18-07-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Mai

Bà Nguyễn Thị Lý

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 07 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2024/TLST-HS ngày 28/05/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐXXST-HS ngày 19/06/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/HSST ngày 03/07/2024 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Quang M; Giới tính: Nam; Sinh năm 1974 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Không đăng ký thường trú; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lâm N và bà Phạm Thị T; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 06/05/2016, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 150/HSST, chấp hành xong án phạt tù tháng 04/2021; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/02/2024 (có mặt);

2/ Hồ Hoàng Phương T1; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 276/81/27 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: 1 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn Hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Hồ H và bà Hoàng Thị Mai L; Hoàn cảnh gia đình: Có chồng tên Châu Hồng Anh K và có 02 người con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/02/2024 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ 40 phút ngày 17/02/2024 Tổ tuần tra 363, Công an quận G phối hợp với Công an P, quận G tuần tra đến trước nhà số F đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Phạm Quang M điều khiển xe gắn máy biển số 78F8-4762 phía sau chở Hồ Hoàng Phương T1 có biểu hiện nghi vấn nên đã dừng xe lại kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của Hồ Hoàng Phương T1 có 01 gói nylon cứa chất bột màu trắng Hồ Hoàng Phương T1 khai là ma tuý (Heroine) nên Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng, đưa Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 về trụ sở Công an P, quận G lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục 8-9, 61-62).

Vật chứng thu giữ : 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng được thu giữ trong lòng bàn tay phải của Hồ Hoàng Phương T1 được niêm phong thành một gói bên ngoài có chữ ký của Hồ Hoàng Phương T1 và hình dấu Công an phường 13 quận G.

  • - 01 điện thoại di động hiệu N1, vỏ bằng nhựa màu đen số sim 0799583534 thu của Hồ Hoàng Phương T1.
  • - 01 điện thoại di động hiệu N1,vỏ nhựa màu xanh số sim 0896400719 thu của Hồ Hoàng Phương T1.
  • - 01 xe gắn máy biển số 78F8- 4762. ;

Quá trình điều tra đã xác định: Vào khoảng 12 giờ ngày 17/02/2024, Phạm Quang M đang ngồi uống cà phê gần khu vực cầu vượt T, Quận A thì nhận được điện thoại số 0896.400.xxx của Hồ Hoàng Phương T1 gọi vào số 0707918391 của Phạm Quang M, nhờ Phạm Quang M chở đi mua ma túy để về cùng nhau sử dụng. Do trước đây, Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 có sử dụng ma túy Heroine chung với nhau, nên Phạm Quang M đồng ý và đi xe buýt đến nơi ở của Hồ Hoàng Phương T1 tại địa chỉ số A đường L, phường A, quận G. Tại đây, Hồ Hoàng Phương T1 đưa chìa khóa và xe máy biển số 78F8- 4762 cho Phạm Quang M để Phạm Quang M điều khiển xe máy chở Hồ Hoàng Phương T1 ngồi phía sau chạy đến khu vực đầu hẻm gần nhà thờ T2 thuộc phường A, quận G. Khi đến nơi, Phạm Quang M dừng xe đứng đợi, còn Hồ Hoàng Phương T1 xuống xe, đi bộ vào trong hẻm (Hồ Hoàng Phương T1 không biết địa chỉ hẻm) để tìm người bán ma túy. Tại đây, Hồ Hoàng Phương T1 gặp một nam thanh niên (chưa rõ họ tên, lai lịch) hỏi Hồ Hoàng Phương T1 có mua Heroine không thì Hồ Hoàng Phương T1 đồng ý và mua Heroine với số tiền là 200.000 đồng. Người này đồng ý bán H1 và nhận số tiền 200.000 đồng của Hồ Hoàng Phương T1. Sau khi nhận tiền, người nam thanh niên này đưa cho Hồ Hoàng Phương T1 01 gói nylong bên trong chứa Heroin, rồi bỏ đi đâu không rõ. Khi nhận được ma túy xong, Hồ Hoàng Phương T1 đi bộ ra nói với Phạm Quang M là đã mua được H1 và cho biết Hồ Hoàng Phương T1 đang cất giấu trong lòng bàn tay phải rồi kêu Phạm Quang M chở đi tìm địa điểm để sử dụng. Phạm Quang M điều khiển xe máy trên, chở Hồ Hoàng Phương T1 ngồi sau đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi đến trước nhà số F đường P, Phường A, quận G thì bị Tổ tuần tra 363 Công an quận G phối hợp Công an P, quận G kiểm tra, phát hiện bản bắt quả tang như đã nêu trên.

Căn cứ Kết luận giám định số 2537/KL-KTHS ngày 25/02/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận chất bột màu trắng được ký hiệu mẫu m (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,1502 gam, loại Heroine (bút lục 15-16, 47-60).

Vật chứng vụ án:

  • - Mẩu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định : Bột màu trắng có khối lượng 0,1222g được niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra là ma tuý còn lại sau giám định.
  • - 01 điện thoại di động hiệu N1, gắn sim số 0799583534 của Hồ Hoàng Phương T1 không liên quan đến vụ án.
  • - 01 điện thoại di động hiệu N1, gắn sim số 0896400719 của Hồ Hoàng Phương T1 dùng để liên lạc mua ma tuý.
  • - 01 điện thoại di động hiệu S, gắn sim số 0707918391 của Phạm Quang M dùng để liên lạc mua ma tuý.
  • - 01 xe mô tô biển số 78F8- 4762; số máy: VDEJQ139FMB3420518; số khung: RPEVCP1PEJA420518 Hồ Hoàng Phương T1 sử dụng làm phương tiện đi mua ma tuý, Hồ Hoàng Phương T1 khai mượn của một người bạn xã hội tên “Tư” để sử dụng. Hồ Hoàng Phương T1 không rõ lai lịch của “Tư”. Kết quả xác minh xe trên không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cho đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe máy có đặc điểm nêu trên nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến làm việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã tiến hành nhập kho vật chứng thuộc Công an quận G theo Lệnh nhập kho số 386/LNK ngày 27/02/2024 đối với số vật chứng nêu trên

Tại bản cáo trạng số 142/Ctr-VKS-GV, ngày 22/03/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố các bị cáo Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • - Xử phạt bị cáo Phạm Quang M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • - Xử phạt bị cáo Hồ Hoàng Phương T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • - Tịch thu và tiêu hủy 01(một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1502 gram loại Heroin được niêm phong có chữ ký của của các bị cáo Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 và hình dấu công an phường 13 quận G.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc xe máy biển số 78F8-4762 và chiếc điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0896400719 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung gắn sim số 0707918391;
  • - Trả lại cho bị cáo Hồ Hoàng Phương T1 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0799583534;
  • - Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận G, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của các bị cáo Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác.

[4] Mặc dù các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với các bị cáo. Số ma túy các bị cáo Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 tàng trữ trái phép qua giám định có khối lượng: 0, 1502 gram loại Heroin nên Viện kiểm sát nhân dân quận G truy tố các bị cáo Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn bị cáo T1 rủ bị cáo M đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo M chở bị cáo T1 đến hẻm gần nhà thờ T2 phường A quận G để bị cáo T1 đi bộ vào hẻm mua ma túy, sau khi mua được ma túy trên đường tìm nơi xử dụng thì bị bắt giữ, bị cáo M có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo M là tái phạm, nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo M được qui định tại điểm h khoản 1 điều 52 của bộ luật hình sự đối với bị cáo M.

[5] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo T1 chưa có tiền án, tiền sự, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo nên quyết định miễn phạt cho các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01(một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1502 gram loại Heroin được niêm phong có chữ ký của các bị cáo Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 và hình dấu công an phường 13 quận G, là chất Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với chiếc xe máy biển số 78F8-4762 qua xác minh có nguồn gốc bất hợp pháp và chiếc điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0896400719 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung gắn sim số 0707918391, các bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0799583534 là tài sản của bị cáo T1 không liên quan đến vụ án. Nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Hồ Hoàng Phương T1.
  • - Đối với đối tượng bán ma túy cho các bị cáo Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau..

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Quang M 02(hai) năm tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 17/02/2024.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hồ Hoàng Phương T1 01(một) năm 06(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 17/02/2024

Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  • - Tịch thu và tiêu hủy 01(một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1502 gram loại Heroin được niêm phong có chữ ký của của các bị cáo Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 và hình dấu công an phường 13 quận G.
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe máy biển số 78F8-4762, chiếc điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0896400719 và chiếc điện thoại di động hiệu Samsung gắn sim số 0707918391;
  • - Trả lại cho bị cáo Hồ Hoàng Phương T1 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia gắn sim số 0799583534;

Theo (Phiếu nhập kho vật chứng số 111/PNK ngày 14/05/2024 của Công an quận G).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhân:

  • -TAND TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Quang M và Hồ Hoàng Phương T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger