|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 149/2023/HS-ST
Ngày: 17/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Thảo
Bà Nguyễn Thị Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 161/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Bá V, sinh năm 1989 tại Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Nguyễn Thị Thanh T1; Vợ, con: có 03 con; Nhân thân: Bản án số 105/2009/HSST ngày 17/4/2009 Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Quyết định số 7797/QĐ-UBND ngày 12/10/2012 Ủy ban nhân dân Quận H1, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng; Tiền án: Bản án số 113/2020/HS-ST ngày 28/8/2020 Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 09/5/2022; Tiền sự: không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 09/5/2023. Có mặt.
2. Nguyễn Đăng Phương T2, sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 947/31 L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: nhà không số, tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đăng D và bà: Nguyễn Thị H; Chồng: không rõ và 02 con: sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 09/5/2023 đến ngày 12/10/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Anh Lâm Cát T3, sinh năm 1991; Nơi cư trú: số B đường số A, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Thanh T4, sinh năm 1992; Nơi cư trú: 3 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào 02 giờ 00 phút 06/05/2023, Nguyễn Bá V cùng Nguyễn Đăng P Thùy đến phòng trọ của vợ chồng Trần Thanh T4 và Nguyễn Thị Ngọc L tại địa chỉ số C T, phường T, quận T để sử dụng ma tuý. Sau khi sử dụng xong ma túy, Nguyễn Bá V điều khiển xe máy Honda Vision biển số 59E2 - 217.42 chở theo Nguyễn Đăng Phương T2 đi về, khi lưu thông đến Đường số A, Phường A, quận T, V phát hiện nhà số B Đường số A, Phường A, quận T của gia đình anh Lâm Cát T3 khóa cửa ngoài bằng 02 ổ khoá nên V dừng xe, chỉ cho T2 cùng thấy và rủ T2 tham gia trộm cắp tài sản, T2 đồng ý. V chở T2 đến khu nghĩa địa trên đường B, quận T lấy dụng cụ phá khóa cửa nhà gồm: 01 thanh kim loại hình chữ L, 01 mỏ lết, 01 cây vít có 02 đầu, rồi V và T2 quay lại nhà số B, T2 đứng ngoài cảnh giới để V thực hiện hành vi phá khóa cửa nhà, cả hai cùng đột nhập vào trong và trộm cắp tài sản trong nhà gồm: 02 Laptop; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus; 01 hộp đựng tiền bên trong có 500.000 đồng; 01 máy pha cà phê mini; 01 máy ép; 01 máy ảnh hiệu Canon; 01 nồi cơm điện; 01 xe máy điện hiệu Vinfast, biển số 41MĐ1 – 446.14 và đem ra ngoài. Sau đó V điều khiển xe máy Vision biển số 59E2 – 217.42 chở tài sản trộm cắp và dùng chân đẩy xe máy điện hiệu Vinfast biển số 41MĐ1 – 446.14 do T2 điều khiển đến gửi tại bãi giữ xe của chung cư H, phường P, quận T. Sau khi gửi xe máy điện, V điều khiển xe Vision biển số 59E2 – 217.42 chở T2 cùng số tài sản trộm cắp được còn lại đến phòng trọ của Trần Thanh T4 và tiếp tục sử dụng ma túy. Tại đây, V lấy 02 Laptop vừa trộm được ra xem, T4 biết đây là tài sản do V và T2 trộm cắp mà có và hỏi mua lại 02 Laptop trên với giá 3.000.000 đồng nhưng V không đồng ý.
Đối với 02 Laptop trộm được tại nhà số B, V đưa cho Lâm Thị Ngọc O nhờ cất giữ dùm. Số tài sản còn lại trộm cắp được tại nhà của gia đình anh Lâm Cát T3, V đem cất giấu tại phòng trọ của T2 tại địa chỉ nhà không số, Tổ A, Ấp B, xã Đ, huyện H.
Đối với dụng cụ gây án là thanh kim loại hình chữ L, V để lại nhà người quen là Lý Bội P1 khi đến nhà P1 chơi; các dụng cụ gây án khác gồm: 01 mỏ lết, 01 cây vít có 02 đầu, Vũ vứt bỏ không thu hồi được.
Quá trình điều tra, truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã thu hồi được số tài sản do V, T2 trộm cắp được tại phòng trọ của T2 và dụng cụ gây án tại nhà của Lý Bội P1 theo lời khai của V, T2. Đồng thời, khi biết 02 Laptop V gửi giữ là tài sản do V trộm cắp mà có, Lâm Thị Ngọc O đã tự giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị can V, T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 124 ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T kết luận:
- 01 xe máy điện hiệu Vinfast màu đỏ biển số: 41MĐ1 – 446.14 màu đỏ, trị giá 20.833.000 đồng.
- 01 Laptop hiệu Xiaomi màu xám, kèm dây sạc pin, trị giá 6.900.000 đồng.
- 01 Laptop hiệu Lenovo màu vàng trị giá 7.000.000 đồng.
- 01 nồi cơm điện hiệu Philips màu trắng, trị giá 500.000 đồng.
- 01 máy ép hiệu Tefal ZC600138 màu trắng, trị giá 1.967.000 đồng.
- 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng, trị giá 1.533.000 đồng
- 01 máy ảnh hiệu Canon 750D màu đen, trị giá 4.017.000 đồng.
- 01 máy pha cà phê trị giá 917.000 đồng.
Đối với 01 hộp đựng tiền và 02 áo khoác màu đỏ, do không có mẫu, không có hóa đơn chứng từ và các thông tin, tài liệu liên quan cần thiết cho việc định giá nên không có cơ sở thực hiện định giá.
Tổng tài sản bị chiếm đoạt trị giá 43.667.000 đồng
Vật chứng vụ án:
- 01 xe máy điện hiệu Vinfast biển số: 41MĐ1 – 446.14; 01 Laptop hiệu Xiaomi; 01 Laptop hiệu Lenovo, kèm dây sạc pin; 01 nồi cơm điện hiệu Philips; 01 máy ép hiệu Tefal; 01 máy ảnh hiệu Canon 750D và 01 máy pha cà phê mini CF03 là tài sản bị chiếm đoạt, đã thu hồi trả lại cho bị hại anh Lâm Cát T3.
- 01 đoạn thanh kim loại hình L là phương tiện phạm tội, thu giữ của V.
- 01 ổ khoá số bằng kim loại, sơn màu đỏ; 01 móc ổ khoá bằng kim loại màu trắng; 01 bản lề ổ khoá bằng kim loại, có tay cầm bằng kim loại do anh T3 giao nộp.
- 02 USB màu trắng chứa dữ liệu hình ảnh vụ trộm cắp tài sản vào ngày 06/5/2023 (kèm hồ sơ vụ án).
- Thu giữ của V: 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Bá V, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu trắng tím, 01 điện thoại di động hiệu CMX màu vàng đồng, số tiền 3.800.000 đồng, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 01 mặt dây chuyền.
- Thu giữ của Thùy: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng đen; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng.
- Đối với 01 xe gắn máy Vision, biển số: 59E2 – 217.42 (Phương tiện dùng vào việc phạm tội) và 01 xe gắn máy Honda Wave, biển số: 63B5 – 548.82 (Thu giữ khi bắt giữ V). V khai, mượn của T5 (Không rõ lai lịch) và của một thanh niên (Không rõ lai lịch) tại nhà của P1. Qua điều tra, xác định đây là tài sản liên quan đến các vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại quận B, quận T, quận P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trích sao tài liệu cùng vật chứng bàn giao cho Công an quận B, quận T, quận P để xử lý theo quy định của pháp luật.
- 02 laptop hiệu Dell thu giữ của Trần Thanh T4. T4 trình bày mua lại của V vào ngày 06/5/2023, tuy V không nói nhưng T4 hiểu đây là tài sản do trộm cắp mà có. V khai 02 laptop trên là do V mua trước đó của người đàn ông không rõ lai lịch, khi V mang tài sản trộm cắp của anh T3 đến nhà T4 để tiếp tục sử dụng ma túy thì T4 có hỏi mua 02 laptop, V không lấy 02 laptop đã trộm cắp được của anh T3 mà lấy 02 laptop mua lại trước đó để bán cho T4 với giá 3.000.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này. Khi bán, do T4 không hỏi về nguồn gốc tài sản nên V cũng không nói. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu để trao trả theo quy định nhưng chưa có kết quả.
Trách nhiệm dân sự: Anh Lâm Cát T3 đã nhận lại số tài sản bị mất trộm thu hồi được và được gia đình V và T2 bồi thường đối với số tài sản không thu hồi được, anh T3 không có yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho V và T2.
Đối với Trần Thanh T4, Nguyễn Thị Ngọc L và Lý Bội P1, quá trình điều tra xác định không liên quan và không biết hành vi trộm cắp của V và T2 nên không xử lý với vai trò đồng phạm là có cơ sở.
Ngoài ra, T4 biết V và T2 mang tài sản đến nhà T4 vào rạng sáng ngày 06/5/2023 là do trộm cắp mà có nhưng không tố giác; do quá trình điều tra xác định hành vi của V và T2 phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T4 về tội “Che giấu tội phạm” hoặc “Không tố giác tội phạm” là có căn cứ.
Đối với Lâm Thị Ngọc O có hành vi cất giữ giúp V 02 laptop nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có cơ sở xem xét xử lý O.
Đối với hành vi đến nhà T4 sử dụng ma túy của V và T2, ngoài lời khai của T4, V và T2 về việc T4 cho V và T2 sử dụng ma túy do đều là bạn bè và không lấy tiền sử dụng ma túy, không thu giữ được ma túy và đồ vật liên quan đến việc sử dụng ma túy nên không có cơ sở xem xét xử lý. Qua kiểm tra, T4, L, V và T2 đều dương tính với chất ma túy nên Công an P2, quận T đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T4, L, V và T2.
Tại bản cáo trạng số 159/CT-VKSTB ngày 02 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Bá V, Nguyễn Đăng Phương T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Bá V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng P Thùy từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về vật chứng và trách nhiệm dân sự thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Bá V và Nguyễn Đăng Phương T2, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Bá V và Nguyễn Đăng Phương T2 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe máy điện hiệu Vinfast màu đỏ biển số: 41MĐ1 – 446.14 màu đỏ trị giá 20.833.000 đồng, 01 Laptop hiệu Xiaomi màu xám, kèm dây sạc pin, trị giá 6.900.000 đồng, 01 Laptop hiệu Lenovo màu vàng trị giá 7.000.000 đồng, 01 nồi cơm điện hiệu Philips màu trắng trị giá 500.000 đồng, 01 máy ép hiệu Tefal ZC600138 màu trắng trị giá 1.967.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng trị giá 1.533.000 đồng, 01 máy ảnh hiệu Canon 750D màu đen trị giá 4.017.000 đồng, 01 máy pha cà phê trị giá 917.000 đồng, 01 hộp đựng tiền và 02 áo khoác màu đỏ (không định giá được) của anh Lâm Cát T3, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 43.667.000 đồng, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam nên các bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Bị cáo V đã bị kết án, chưa được xóa án tích nhưng lại cố tình phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tài sản đã thu hồi được phần lớn và trả lại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; Bị cáo T2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo T2 là người bị bị cáo V rủ rê phạm tội, không trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, khi phạm tội bị cáo T2 đang có thai, hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ mới sinh, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T2 theo quy định tại điểm h, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và cho bị cáo V theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo T2 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và hiện đang nuôi con nhỏ mới sinh nên khi xem xét quyết định hình phạt cần áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo T2.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lâm Cát T3 đã nhận lại tài sản và đã được gia đình các bị cáo bồi thường, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về vật chứng vụ án:
- 01 đoạn thanh kim loại hình L thu giữ của bị cáo V, xét thấy đây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- 01 ổ khoá số bằng kim loại, sơn màu đỏ; 01 móc ổ khoá bằng kim loại màu trắng và 01 bản lề ổ khoá bằng kim loại, có tay cầm bằng kim loại do anh T3 giao nộp, xét thấy đây là những vật không có giá trị và anh T3 không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy.
- 02 USB màu trắng chứa dữ liệu hình ảnh vụ trộm cắp tài sản vào ngày 06/5/2023 (Kèm hồ sơ vụ án) là chứng cứ của vụ án và có thể lưu giữ trong hồ sơ vụ án nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu trắng tím, 01 điện thoại di động hiệu CMX màu vàng đồng, số tiền 3.800.000 đồng, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 01 mặt dây chuyền và 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Bá V thu giữ của bị cáo V, xét thấy đây là tài sản và giấy tờ cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng đen; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng thu giữ của bị cáo T2, xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- 02 laptop hiệu Dell thu giữ của anh T4. T4 trình bày mua lại của V vào ngày 06/5/2023, tuy bị cáo V không nói nhưng T4 hiểu đây là tài sản do trộm cắp mà có. Bị cáo V khai 02 laptop trên là do bị cáo V mua trước đó của người đàn ông không rõ lai lịch, khi bị cáo V mang tài sản trộm cắp của anh T3 đến nhà T4 để tiếp tục sử dụng ma túy thì T4 có hỏi mua 02 laptop, bị cáo V không lấy 02 laptop đã trộm cắp được của anh T3 mà lấy 02 laptop mua lại trước đó để bán cho T4 với giá 3.000.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này. Khi bán, do T4 không hỏi về nguồn gốc tài sản nên bị cáo V cũng không nói. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu để trao trả theo quy định nhưng chưa có kết quả. Xét thấy 02 laptop hiệu Dell trên có nguồn gốc chưa rõ ràng, cần giao Chi cục thi hành án dân sự quận T đăng báo trong một thời gian nhất định, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Bá V;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Đăng Phương T2;
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá V và Nguyễn Đăng P Thùy phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Bá V 02 (Hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2023.
Xử phạt: Nguyễn Đăng Phương T6 (Năm) tháng 03 (Ba) ngày tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2023. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.
[3] Lưu vào hồ sơ vụ án 02 USB màu trắng chứa dữ liệu hình ảnh vụ trộm cắp tài sản vào ngày 06/5/2023.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 đoạn thanh kim loại hình L1; 01 ổ khoá số bằng kim loại, sơn màu đỏ; 01 móc ổ khoá bằng kim loại màu trắng và 01 bản lề ổ khoá bằng kim loại, có tay cầm bằng kim loại.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bá V: 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Bá V, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu trắng tím, 01 điện thoại di động hiệu CMX màu vàng đồng, số tiền 3.800.000 đồng, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng và 01 mặt dây chuyền.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đăng P Thùy: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng đen và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng.
Giao Chi cục thi hành án dân sự quận T đăng báo tìm chủ sở hữu 02 laptop hiệu Dell trong một thời gian 01 năm, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.
(Tình trạng vật chứng theo như Biên bản bàn giao vật chứng số 21/BB/2023 ngày 16/11/2023 giữa Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).
[4] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ VÀ ĐÓNG DẤU) Nguyễn Quang Thiện |
Bản án số 149/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 149/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bá V và Nguyễn Đăng P Thùy phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
