Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/HS-ST

Ngày: 09-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Lâm Thị Nga
  2. Ông Huỳnh Hữu Tường

- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Đô - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 222/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 852/2024/QĐXXST ngày 27/6/2024, đối với bị cáo:

1. Lê Tuấn A; Giới tính: N; Sinh năm: 1995, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 51/24/18, Tổ 3, ấp F, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Lê Trí V, sinh năm 1966; Con bà: Trần Thị L, sinh năm 1968; Vợ: Ngô Thị Gia H, sinh năm 1998; Con: 02 người con sinh năm 2019 và 2021; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 22/12/2023 (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Trịnh Đình T; Sinh năm: 1977.

Địa chỉ: 1, Tổ B, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).

- Người làm chứng: ông Trịnh Đình T1; Địa chỉ: 1, Tổ B, Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 14/7/2023, Lê Tuấn A điều khiển xe ô tô tải nhân hiệu ISUZU, biển số: 49H - 005.93 chở hàng hóa (quả dừa) từ tỉnh Bến Tre về Quận A, khi đi vào đường hẻm đối diện Bệnh viện Q để xuống hàng thì lưu thông bình thường vì không có xe ô tô nào khác trong hẻm.

Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, Tuấn A điều khiển xe ô tô trên đi từ trong hẻm ra hướng đường D, khi đi đến gần địa chỉ nhà không số, tổ B, khu phố A, phường T, Quận A thì có xe ô tô tải, biển số: 51D - 753.94 đậu trước địa chỉ trên nên xe ô tô do Tuấn A điều khiển không đi qua được. Tuấn A dừng xe lại và đi bộ đến chỗ xe ô tô tải, biển số: 51D - 753.94 để nói chuyện với anh Trịnh Đình TTrịnh Đình T1 là tài xế của xe ô tô tải, biển số: 51D - 753.94 yêu cầu anh T điều khiển xe ô tô trên đỗ gọn vào phía trong lề đường để xe ô tô của Tuấn A đi qua thì anh T đồng ý. Tuy nhiên vì hẻm nhỏ nên xe ô tô do Tuấn A điều khiển vẫn không thể đi qua được nên Tuấn A yêu cầu anh T điều khiển xe ô tô đi ra hướng ngã tư gần đó để cho xe ô tô của Tuấn A đi qua nhưng anh T không đồng ý và yêu cầu Tuấn A chờ cho anh T bốc hàng xong. Tuấn A tiếp tục nói chuyện nhiều lần nhưng anh T vẫn không đồng ý, sau đó cả hai bên lớn tiếng chửi bới và nảy sinh mâu thuẫn. Do gần nhà anh T nên có nhiều người đi ra xem có chuyện gì xảy ra, Tuấn A thấy đông người, sợ bị đánh nên đã gọi điện thoại nhờ tên T2, B (không rõ lai lịch) đến phòng khi có xảy ra đánh nhau thì T2B đồng ý đến. Lúc này, Tuấn A lấy 01 con dao loại Thái Lan, cán bằng nhựa màu vàng, dài 15 cm có sẵn trong xe ô tô của Tuấn A (dùng để cắt băng keo dán hàng hóa) để phòng ngừa người khác đánh. Thấy sự việc trở nên căng thẳng nên có nhiều người đến can ngăn thì anh T điều khiển xe ô tô tải biển số: 510 - 753.94 chạy lùi vào khu đất trống gần đó để Tuấn A điều khiển xe ô tô biển số: 49H - 005.93 đi qua.

Đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, Tuấn A điều khiển xe ô tô, biển số: 49H - 005.93 đi về khu để xe thuộc phường T, Quận A. Do bực tức khi cãi nhau với anh T nên Tuấn A nảy sinh ý định gây thương tích cho anh T. Tuấn A lấy 01 con dao tự chế, dài khoảng 40 cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng gỗ, loại dùng để chặt quả dừa để trên ca bin xe ô tô, biển số: 4911 - 005.93. Sau đó, Tuấn A để con dao trên yên xe mô tô nhãn hiệu Dream (không rõ biển số) rồi điều khiển xe mô tô ra cổng bãi để xe thì gặp T2B nên Tuấn A quay lại cất xe mô tô nhãn hiệu Dream vào trong bãi để xe rồi cầm cây dao tự chế đi bộ ra cổng. Bư điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave (không rõ biển số) chở T2 ngồi giữa, Tuấn A để con dao trên yên xe mô tô rồi Tuấn A ngồi lên sau cùng đi ra đường D hướng về Bệnh viện Quận A, khi đi vào trong đường hẻm lúc xảy ra cãi nhau với anh T thì Tuấn A nhìn thấy anh T điều khiển xe ô tô tải, biển số: 51D - 753.94 đi từ trong hẻm ra đường D. Tuấn A nói B quay xe mô tô lại đi theo xe ô tô của anh T. Khi đến cổng phụ Bệnh viện Q, địa chỉ: A, đường D, khu phố H, phường T, Quận A thì anh T đỗ xe lại, đầu xe hướng về ngã ba đường D và đường T, đuôi xe hướng về đường T. Tuấn A, BT2 dừng xe mô tô lại đứng bên đường đối diện. Khi nhìn thấy anh T xuống xe ô tô đi vòng ra phía sau đuôi xe ô tô thì Tuấn A nói B điều khiển xe mô tô chở T2Tuấn A đi đến trước đầu xe ô tô tải, biển số: 51D - 753.94. Lúc này, BT2 ngồi trên xe mô tô, Tuấn A xuống xe, cầm 01 con dao tự chế mang theo và đi bộ ra phía đuôi xe ô tô tải thấy anh T đang quay lưng về phía Tuấn A, bất ngờ Tuấn A dùng tay phải cầm dao tự chế chém 03 cái trúng vào vùng lưng của anh T gây thương tích, anh T bỏ chạy về hướng đầu xe ô tô thì Tuấn A đuổi theo, tiếp tục dùng dao tự chế chém 02 cái, anh T đưa tay trái lên đỡ nên bị thương tích ở tay rồi anh T bỏ chạy vào cổng Bệnh viện Q thì Tuấn A dừng lại, đi bộ lại chỗ BT2 chờ sẵn ở đầu xe ô tô, rồi B điều khiển xe mô tô chở T2Tuấn A tẩu thoát.

Sau khi sự việc xảy ra, anh Trịnh Đình T được đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện A1, sự việc được trình báo Công an phường T, Quận A lập hồ sơ chuyển Cơ quan CSĐT Công an Q1 thụ lý

Tại Bản kết luận số: 762/KLTTCT-TTPY.2023 Ngày 27/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự - Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với Trịnh Đình T như sau:

1. Các kết quả chính:

  • Vết thương vùng vai trái gây đứt da, đứt cơ dưới gai, mẻ xương vai đã được điều hiện còn một sẹo kích thước 21,5 x (0,05-0,3) cm, hình ảnh liền xương trên phim MSCT, ổn định. Có tỉ lệ 03% (Ba phần trăm). Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.
  • Vết thương vùng lưng trái gây đứt da, đứt cơ lưng, mẻ xương sườn VIII, IX (ảnh 2,3) đã được điều trị hiện còn một sẹo kích thước 14 x (0,1-0,2) cm và hình ảnh mẻ xương trên phim MSCT ngay dưới vị trí vết thương. Có tỉ lệ 04% (Bốn phần trăm). Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.
  • Vết thương vùng lưng phải gây đứt da, đứt cơ lưng đã được điều trị hiện còn một sẹo kích thước 17,8 x (0,05-0,3) cm ổn định. Có tỉ lệ 02%. (Hai phần trăm).
  • Vết thương mặt sau khuỷu trái gây đứt da, đứt điểm bám gân cơ tam đầu đã được điều trị hiện còn một sẹo trùng sẹo mổ kích thước 9,9 x (0,1-0,2) cm và hình ảnh phù nề nhẹ gân cơ trên siêu âm, ổn định. Có tỉ lệ 03%. (Ba phần trăm).
  • Vết thương mặt mu bàn tay trái gây đứt da, đứt gân duỗi ngón IV, V đã được điều trị hiện còn một sẹo mổ kích thước 6,8 x 0,1 cm hạn chế gấp ngón V do ngắn gân. Có tỉ lệ 05%. (Năm phần trăm).

Ba thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trịnh Đình T tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác:

  • Không có cơ sở xác định chiều hướng và lực tác động

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, là điện thoại mà Lê Tuấn A sử dụng để liên lạc với T2B đi đánh nhau.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Trịnh Đình T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 150.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường 50.000.000 triệu đồng, số tiền còn lại bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản cáo trạng số: 185/CT-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Tuấn A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội cố ý gây thương tích.

Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Tuấn A đã bồi thường cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì thêm.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại, bản ảnh xác định hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở khẳng định:

Xuất phát từ mẫu thuẫn nhỏ trong lúc điều khiển phương tiện qua hẻm khu dân cư. Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 14/7/2023, trước cổng phụ bệnh viện Q, địa chỉ A đường D, Khu phố H, phường T, Quận A, Lê Tuấn A đã cầm một con dao tự chế, dài khoảng 40cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng gỗ chém 03 cái trúng vào vùng lưng và 02 cái vào tay trái của anh Trịnh Đình T gây tổn thương cơ thể là 16%. Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:

Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu, Gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có bà là Võ Thị X được tặng danh hiệu bà mẹ Việt Nam anh hùng nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Đối với T2B (không rõ lai lịch) được Tuấn A gọi đến hỗ trợ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiếp tục điều tra xác minh đề nghị xử lý sau.

[4] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:

- Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, là điện thoại mà Lê Tuấn A sử dụng để liên lạc với T2B đi đánh nhau.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trịnh Đình T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 150.000.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường 50.000.000 triệu đồng, số tiền còn lại bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A: 03 (ba) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.

Căn cứ Điều 47, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 153/QĐ-VKS, ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 CA TP. HCM; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi bị cáo cư trú; (1b)
  • - Bị cáo, bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA




Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger