|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 149/2024/HS-PT Ngày: 05-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Duy Hoài |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Công Hoàn |
| Ông Nguyễn Hữu Hồng |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024. đối với bị cáo Lộc Tuấn V, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo: Lộc Tuấn V, sinh năm 1986 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Tổ D, thôn A, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 6/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông: Lộc Văn S; con bà: Vi Thị D; vợ: Nguyễn Thị Hà D1, sinh năm 1989 (đã ly hôn); con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất: 2016; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2023, đến ngày 20/7/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lãnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Quốc T – Văn phòng L – Đoàn luật sư tỉnh Đ. Có mặt.
Trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 30/12/2022, Lộc Tuấn V đi mua thuốc lá thì thấy Trần Văn H điều khiển xe mô tô biển số 49E1-902.72 của vợ V là Nguyễn Thị Hà D1. V đi theo đến nhà ông Trần Văn H ở số 6/8 thôn A, L, Đ thì thấy Nguyễn Thị Hà D1 đang quấn mền ngồi nhậu tại sân. Lúc này có Nguyễn Quốc B đang nằm ngủ bên cạnh, còn Thái C đang đi vệ sinh. V đi vào thì ông H đứng dậy hỏi V “kiếm ai” và dùng tay xô V, V sử dụng hai tay nắm lại đấm vào mặt, đầu ông H thì ông H bỏ chạy. V nhặt cây cà phê khô kích thước 60cm x 6cm đánh trúng người ông H. Sau đó, V quay lại vị trí tổ chức nhậu thì thấy Nguyễn Thị Hà D1 đang ngồi và đắp mền ở chiếu. V dùng cây cà phê khô đang cầm trên tay đánh từ sau về trước, từ phải sang trái khoảng 4 – 5 cái vào đầu, tay, lưng của D1 khiến D1 ngất xỉu tại chỗ. Tiếp đó, V tiếp tục đi tìm kiếm những người cùng nhậu với D1 nhưng không thấy ai. V quay lại dùng cây cà phê khô đập xuống mặt bàn làm bể tấm kính độ dày 6mm, kích thước 40cm x 1,2m, đập phá xe mô tô biển số 49E1-902.72 làm bể ốp đầu trước pha đèn, cặp gù tây lái, hai củ đèn xi nhan trước, bửng bên trái phía trước, mặt nạ trước, miếng xi mặt nạ, hộp biển số; đập phá xe ô tô biển số 51H-343.51 làm bể cụm đèn hậu bên phải và tấm kính cửa sau bên trái. Sau đó, V gọi điện thoại cho mẹ và anh vợ đến để đưa D1 đi cấp cứu còn V đến Công an xã làm việc.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống (bổ sung) số 89A/23-KLTTCT-PYLĐ ngày 11/7/2023 của Trung tâm y tế Sở y tế tỉnh L xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Hà D1 tại thời điểm giám định là 37%. Tổn thương do vật tày gây nên.
Kết luận giám định lại lần thứ 1 tổn thương cơ thể trên người sống số 6350/KLTTCT-C09B ngày 26/10/2023 của V1 tại TP Hồ Chí Minh kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Hà D1 tại thời điểm giám định là 30%. Thương tích trên người Nguyễn Thị Hà D1 có đặc điểm phù hợp do vật tày tác động gây nên.
Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 28/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax trị giá 12.000.000đ. Cụm đèn hậu bên phải và tấm kính cửa sau bên trái của xe ô tô biển số 51H-343.51 tổng trị giá 1.610.000đ; hai củ đèn xi nhan trước, bửng bên trái phía trước, mặt nạ trước, miếng xi mặt nạ của xe mô tô biển số 49E1-902.72 trị giá 1.575.000đ.
Kết luận số 120/KL-HĐĐG ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 tấm kính thường có độ dày 6mm, kích thước 40cmx1,2m trị giá 76.800đ.
Vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tạm giữ và trả lại: Nguyễn Thị Hà D1 điện thoại di động hiệu ViVo, điện thoại Iphone 11 màu đen và xe mô tô biển số 49E1-902.72; Nguyễn Quốc B điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus thuộc sở hữu; Lộc Tuấn V điện thoại Sam Sung Galaxy A13.
Đối với 01 khúc cây cà phê khô bám dính chất màu nâu đỏ có kích thước 33 x6cm và 01 khúc cây cà phê khô kích thước 27cm x 6cm, 01 mảnh kính bàn bị vỡ, 01 ốp nhựa màu đen bám dính chất màu nâu đỏ có kích thước 18 cm x13cm và điện thoại Iphone 11 promax của ông Thái Cao T1 (ông T1 chưa đến nhận tài sản) nên Viện kiểm sát ra Quyết định chuyển vật chứng đến Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.
Trách nhiệm dân sự: Lộc Tuấn V đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thị Hà D1 số tiền 20.000.000đ, đến nay không ai yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.
Tại bản cáo trạng số 32/CT - VKS ngày 30 tháng 01 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng để xét xử bị cáo: Lộc Tuấn V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HSST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lộc Tuấn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lộc Tuấn V 30 ( ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2023 đến ngày 20/7/2023 vào thời gian chấp hành án.
Ngày 09/4/2024 bị cáo Lộc Tuấn V kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Lộc Tuấn V trình bày luận cứ: Bị cáo có xuất thân tốt, hiện nuôi con còn nhỏ (vợ là bị hại đã ly hôn), bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo bức xúc khi vợ đi nhậu và ôm người khác, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm m khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử bị cáo dưới khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào tối ngày 30/12/2022, tại Số F thôn A, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, sau khi đi tìm và thấy vợ mình ngồi nhậu với người khác nên Lộc Tuấn V đã dùng cây cà phê khô đánh nhiều nhát vào người bà Nguyễn Thị Hà D1 (là vợ bị cáo).
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống (bổ sung) số 89A/23-KLTTCT-PYLĐ ngày 11/7/2023 của Trung tâm y tế Sở y tế tỉnh L xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Hà D1 tại thời điểm giám định là 37%. Tổn thương do vật tày gây nên.
Kết luận giám định lại lần thứ 1 tổn thương cơ thể trên người sống số 6350/KLTTCT-C09B ngày 26/10/2023 của V1 tại TP Hồ Chí Minh kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Hà D1 tại thời điểm giám định là 30%. Thương tích trên người Nguyễn Thị Hà D1 có đặc điểm phù hợp do vật tày tác động gây nên.
Cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện chứng cứ, đối chiếu lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định; đã tuyên bố bị cáo Lộc Tuấn V phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường và khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án 30 (ba mươi) tháng tù là phù hợp. Mặc dù bị cáo là dân tộc Nùng nhưng có trình độ học vấn 6/12, bị cáo sống trong khu dân cư thị trấn, phạm tội xâm phạm sức khỏe người khác nhưng Luật sư đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo phạm tội do lạc hậu quy định tại điểm m khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ chấp nhận. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới do bức xúc việc vợ bị cáo
đêm hôm còn nhậu với những người đàn ông khác và sau khi vụ án xảy ra, bị cáo và vợ ly hôn, bị cáo được tòa án giao nuôi hai con còn nhỏ, là lao động chính, duy nhất trong gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 30%, ngoài ra còn đập phá tài sản của người khác nên việc cho bị cáo hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
[4] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Lộc Tuấn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lộc Tuấn V 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án; được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2023 đến ngày 20/7/2023 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
2. Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Lộc Tuấn V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Hoài |
Bản án số 149/2024/HS-PT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 149/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lộc Tuấn V "Cố ý gây thương tích"
