TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:149/2025/HSST Ngày: 28/05/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Mạnh Tuấn |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Ngọc Minh |
| Ông Bùi Văn Chanh | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Nguyễn Mạnh Đức-Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: | Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên. |
Ngày 28/05/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2025/TLST-HS ngày 08/05/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/QĐXXST- HS ngày 14/05/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức C, sinh năm: 1990; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Đức N, sinh năm: 1964; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1966; A, chị, em ruột: Có 03 chị, em; bị cáo là con thứ 2; Vợ: Đặng Thị Ngọc D, sinh năm: 1998 (đã ly hôn); Con: Có 02 con (lớn sinh năm: 2016, nhỏ sinh năm: 2018).
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: 01.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 190/2023/HSST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo đầu thú; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an Thành phố H. (Có mặt).
Người bị hại: Anh Trần Văn P, sinh năm: 1993, trú tại: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: số B N, phường H, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 08/3/2025, Nguyễn Đức C đi bộ lang thang tại khu vực nhà thờ H thuộc đường H, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội thì phát hiện trên vỉa hè gần trước cửa nhà thờ có để nhiều xe máy, xe đạp mà không có người trông giữ. Do không có tiền nên C nảy sinh ý định trộm cắp xe để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. C đi đến khu vực để xe thấy 01 chiếc xe đạp điện màu đen, trên xe có dán tem mác “ZOA Lucky”, không có biển kiểm soát của anh Trần Văn P (sinh năm: 1993, trú tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: số B N, phường H, quận H, Hà Nội) đang không khóa cổ, khóa càng, C đến lại gần và lén lút dắt chiếc xe trên bỏ đi, sau đó mang về hầm gửi xe tòa nhà chung cư C đường N, thuộc phường H, quận H, Hà Nội để gửi, gửi xe xong C bắt xe buýt về nhà ngủ.
Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 09/3/2025, C đi xe buýt đến hầm gửi xe tòa nhà chung cư CT1 lấy chiếc xe đạp điện đã trộm cắp của anh P đi sửa khóa để đem bán. Khi C dắt chiếc xe qua địa chỉ số A N, phường H, quận H, Hà Nội thì bị anh P phát hiện, đuổi theo và giữ C lại. Sau đó, anh P đã trình báo và cùng lực lượng Công an phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội đưa C về trụ sở làm việc. Tại đây, C đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Vật chứng đã thu giữ:
- 01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen, trên thân xe có dán tem nhãn “ZOA Lucky”, không có biển kiểm soát;
- 01 (một) chiếc USB (lưu giữ 02 đoạn video clip liên quan đến vụ án).
Ngày 10/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Yêu cầu định giá tài sản số 7058 đối với tài sản Nguyễn Đức C đã trộm cắp. Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTTTHS ngày 10/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: “01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen, có dán tem Z, xe không biển kiểm soát (đã qua sử dụng, đã thu được tang vật), trị giá 2.166.000 đồng (Bút lục 51- 52).
Về nguồn gốc và xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe đạp điện màu đen, trên thân xe có dán tem nhãn “ZOA Lucky”. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn P. Do đó ngày 15/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Văn P là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với 01 (một) chiếc USB (lưu giữ 02 đoạn video clip liên quan đến vụ án). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H chuyển theo hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn P không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của C phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án,
Tại Cáo trạng số 116/CT-VKS-HĐ ngày 06/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Đức C về tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Đức C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, nói lời sau cùng bị cáo xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu tại phiên tòa:
Giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 116/CT-VKS-HĐ ngày 06/05/2025. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức C, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:
a) Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 12 đến 15 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2025.
b) Hình phạt bổ sung: Không.
c) Về xử lý vật chứng: Không;
d) Về trách nhiệm dân sự: Không;
đ) Về án phí: Áp dụng nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về thẩm quyền, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án:
Vụ án xảy ra tại địa bàn quận H, Thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập hợp pháp nên là chứng cứ trong vụ án.
[2]. Về sự vắng mặt của người bị hại: Xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người bị hại, việc vắng mặt của người bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại.
[3]. Hành vi phạm tội và tội danh:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ, biên bản xác định hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/3/2025, tại vỉa hè trước cửa nhà thờ H, đường H, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Đức C có hành vi lét lút chiếm đoạt của anh Trần Văn P 01 chiếc xe đạp điện màu đen, có dán tem Z, xe không biển kiểm soát, trị giá 2.166.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 173 Bộ luật Hình sự; tội “Trộm cắp tài sản” quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nhưng bị cáo coi thường pháp luật, vẫn cố ý phạm tội.
Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Nguyễn Đức C về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất tự tại địa phương. Do đó, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.
[5].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, cụ thể:
- Về nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 190/2023/HSST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội, xử phạt Nguyễn Đức C 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản. Như vậy, bị cáo C đã có một tiền án cũng về tội trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích, bị coi là có nhân thân xấu. Bị cáo không coi đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn cố ý phạm tội.
-Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án, chưa xóa án tích nay tiếp tục phạm tội. Đây là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]. Xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe đạp điện màu đen, trên thân xe có dán tem nhãn “ZOA Lucky”. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn P. Do đó ngày 15/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Văn P là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với 01 (một) chiếc USB (lưu giữ 02 đoạn video clip liên quan đến vụ án). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H chuyển theo hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Trần Văn P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9]. Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Trộm cắp tài sản".
2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
- Các Điều: 45,46,136, 260, 268, 269, 299, 326, 327, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức C 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/03/2025.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Đức C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Đức C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuấn |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Ngọc Minh | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tuấn | THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Văn Chanh |
Bản án số 149/2025/HSST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 149/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA.149.Nguyễn Đức Cường.28.5.25
