Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 149/2025/HS-ST

Ngày: 19/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Cửu Long.

2. Ông Cao Quốc Hưng – nguyên giáo viên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngụy Khắc V - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử kín theo hình thức trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2025/HSST ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Tạ Ngọc M, sinh ngày 05/6/1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; CCCD: [...]; Nơi thường trú: K312, Đường F, chung cư P, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Cha: Tạ Ngọc M1 (chết); Mẹ: Lê Thị L, sinh năm: 1948; Vợ: Phùng Ngọc H, sinh năm 1979; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 27/7/1996, bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 112/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/1996, đóng án phí ngày 28/9/1996.
  • - Ngày 08/07/1997, bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 20 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân” theo Bản án số 147/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù tháng 09/1998, đóng án phí ngày 22/01/1998.
  • - Ngày 16/12/1999, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân” theo Bản án số 3278/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/7/2004, án phí: Chi cục thi hành án thành phố Thủ Đức không nhận được hồ sơ ủy thác thi hành án của Chi cục thi hành án Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Ngày 23/5/2006, bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 40/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2014, đóng án phí ngày 11/6/2008, Chi cục thi hành án dân sự chưa nhận được yêu cầu bồi thường dân sự.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/12/2023, có mặt.

- Bị hại:

  1. Cháu Diệp Đình H1, sinh năm 2010;
  2. Người giám hộ: Ông Diệp Quốc Phương K, sinh năm 1971 và bà Kim Thạch Phi P, sinh năm 1977;

    Cùng địa chỉ thường trú: 5/25 H, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  3. Cháu Tất Thành T, sinh năm 2010;
  4. Người giám hộ: Ông Tất Minh T1, sinh năm 1978 và bà Phan Thị Ngọc T2, sinh năm 1982;

    Cùng địa chỉ thường trú: 19 H, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1998;
  2. Địa chỉ: D K, Khu phố F, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  3. Bà Phùng Ngọc H, sinh năm 1979;
  4. Nơi thường trú: A, đường N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

  5. Ông Diệp Đình N, sinh năm 2001;
  6. Địa chỉ: 5 H, Khu phố C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 02/12/2023, Tạ Ngọc M đang ở dưới chân cầu G thuộc Khu phố H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy cháu Diệp Đình H1 (sinh năm 2010) và Tất Thành T (sinh năm 2010) đang câu cá ở dưới chân cầu G nên M đi đến xem hai cháu câu cá. Khi đến nơi, M phát hiện trên túi vải rút, màu đen có 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus loại 128GB của cháu Diệp Đình H1 và 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu đen của cháu Tất Thành T nên M nảy sinh ý định chiếm đoạt 02 điện thoại di động trên. Sau đó, M quay lại chỗ ngủ dưới gầm cầu G, cầm theo một cái kéo bằng sắt mà trước đó M đã nhặt được cách đây 03 tháng (không nhớ nơi nhặt kéo) mang theo trong người, rồi quay lại chỗ cháu H1 và cháu T (khoảng cách gần 01 mét) để lấy 02 điện thoại trên. M đứng gần vị trí 02 điện thoại, cúi xuống dùng tay trái lấy 02 cái điện thoại đang được đặt trên cái túi rút, rồi đi theo đường cũ về. Lúc này, cháu H1 và T phát hiện và đi theo M để đòi lại điện thoại nhưng M nói “không trả” đồng thời M cầm kéo lên chỉ thẳng về phía cháu H1 và cháu T và nói lời đe dọa “tụi bay đi theo tao nữa tao đâm đó”. Nghe vậy nên cháu T và cháu H1 sợ quá nên không đi theo M nữa. Sau khi bị lấy 02 điện thoại trên, cháu H1 và cháu T về nhà nói lại cho ba mẹ biết sự việc trên. Đến 14 giờ 00 phút cùng ngày, cháu Tất Thành T cùng ba ruột là ông Tất Minh T1 đến Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc trên.

Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành mời Tạ Ngọc M đến Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc. Qua làm việc, M thừa nhận hành vi chiếm đoạt 02 điện thoại di động như trên. Sau khi lấy được 02 cái điện thoại, M điều khiển xe mô tô hiệu SYM Attila, màu đen, biển số 54V5-4722 chở chị Phùng Ngọc H và cháu Phùng Thùy V1 (con gái riêng của chị H) đi ăn sáng. Khi đến khu vực đường K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì xe biển số 54V5-4722 bị hư nên M đẩy xe vào tiệm sửa xe và kêu chị H đợi ở đây để sửa xe, còn M cùng cháu V1 đi bộ sang đường, đến Cửa hàng điện thoại di động “Minh Chiến” tại địa chỉ số E, K, khu phố H, phường L, thành phố T bán 02 cái điện thoại chiếm đoạt được với giá 3.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn C. Số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng mà Tạ Ngọc M đã bán được và tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số 21-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 (một) điện thoại Iphone 7Plus màu đen loại 128GB, số IMEI: 353813081693862 có giá 2.433.000 đồng và 01 (một) điện thoại Iphone 12 Pro màu đen loại 256GB, số IMEI: 354523332429870 có giá 9.667.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 12.100.000 (mười hai triệu một trăm nghìn) đồng.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) cây kéo (không thu hồi được).
  • - 01 (một) điện thoại Iphone 7Plus màu đen loại 128GB, số IMEI: 353813081693862. Qua làm việc với cháu Diệp Đình H1 cho biết 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen loại 128GB của anh ruột Diệp Đình N mua lại vào khoảng tháng 4/2023. Anh N cho H1 để sử dụng. Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại Iphone 7Plus màu đen loại 128GB, số IMEI: 353813081693862 cho Diệp Đình N.
  • - 01 (một) điện thoại Iphone 12 Pro màu đen loại 256GB, số IMEI: 354523332429870. Qua làm việc với cháu Tất Thành T cho biết 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu đen loại 256GB của cha ruột ông Tất Minh T1 mua vào tháng 8/2023. Ông T1 cho T mượn để sử dụng. Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại Iphone 12 Pro màu đen loại 256GB, số IMEI: 354523332429870 cho Tất Minh T1.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Attila biển số 54V5-4722, số khung: RLGH125ND9D003084, số máy: VMVTFBD003084. Qua xác minh, xe mô tô trên do chị Nguyễn Thị H2 (HKTT: 80/4/1 Đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại địa chỉ trên, không có đương sự Nguyễn Thị H2 cư trú. Qua làm việc, chị Phùng Ngọc H cho biết xe mô tô do chị H mua vào năm 2017 của một người phụ nữ không nhớ rõ lai lịch, việc mua bán không làm giấy tờ mua bán và không làm thủ tục sang tên.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Tất Minh T1 và ông Diệp Đình N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 119/CT-VKSTPTĐ ngày 18/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Tạ Ngọc M về tội: “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Tạ Ngọc M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thừa nhận việc bị truy tố, không kêu oan và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Tạ Ngọc M về tội “Cướp tài sản” và đề nghị:

  • - Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Tạ Ngọc M từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa.

Bị cáo Tạ Ngọc M nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét việc bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Tạ Ngọc M phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:

Do cần tiền tiêu xài nên vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 02/12/2023 dưới chân cầu G thuộc Khu phố H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Tạ Ngọc M đã có hành vi sử dụng kéo để uy hiếp cháu Diệp Đình H1 (sinh năm 2010) và cháu Tất Thành T (sinh năm 2010) nhằm mục đích chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone 7Plus màu đen của cháu H1 có giá trị 2.433.000 (hai triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn) đồng và 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu đen của cháu T có giá trị 9.667.000 (chín triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng. Tổng giá trị tài sản Tạ Ngọc M chiếm đoạt là 12.100.000 (mười hai triệu một trăm nghìn) đồng.

Hành vi của Tạ Ngọc M đã phạm vào tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Tạ Ngọc M về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Đối với Nguyễn Văn C không biết tài sản Tạ Ngọc M bán là do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm trách nhiệm hình sự.

[2] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Tạ Ngọc M sử dụng kéo để uy hiếp các bị hại nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, áp dụng tinh thần của Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì kéo được tính là phương tiện nguy hiểm. Ngoài ra, bị cáo chiếm đoạt tài sản của các bị hại tại thời điểm các bị hại chưa đủ 14 tuổi. Do đó hành vi của bị cáo Tạ Ngọc M thuộc trường hợp quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

[3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tạ N1 không có tình tiết tăng nặng.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo M phải chịu.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì cần tiền tiêu xài nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đối với các bị hại là người dưới 16 tuổi. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo Tạ Ngọc M còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Tạ Ngọc M không có công việc ổn định, không có điều kiện kinh tế để thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Tất Minh T1 và ông Diệp Đình N là chủ sở hữu hợp pháp các tài sản bị chiếm đoạt, ông T1 và ông N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Tạ Ngọc M thu lợi bất chính số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng từ việc tiêu thụ 02 điện thoại Iphone do cướp tài sản mà có. Do đó, cần buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 (ba triệu) đồng vào ngân sách nhà nước.

[9] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) cây kéo (không thu hồi được), xét thấy đây là phương tiện phạm tội nhưng không thu hồi được nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • - 01 (một) điện thoại Iphone 7Plus màu đen loại 128GB, số IMEI: 353813081693862. Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại Iphone 7Plus màu đen loại 128GB, số IMEI: 353813081693862 cho Diệp Đình N. Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • - 01 (một) điện thoại Iphone 12 Pro màu đen loại 256GB, số IMEI: 354523332429870. Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại Iphone 12 Pro màu đen loại 256GB, số IMEI: 354523332429870 cho Tất Minh T1. Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Attila biển số 54V5-4722, số khung: RLGH125ND9D003084, số máy: VMVTFBD003084. Qua xác minh, xe mô tô trên do chị Nguyễn Thị H2 (HKTT: 80/4/1 Đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại địa chỉ trên, không có đương sự Nguyễn Thị H2 cư trú. Qua làm việc, chị Phùng Ngọc H cho biết xe mô tô do chị H mua vào năm 2017 của một người phụ nữ không nhớ rõ lai lịch, việc mua bán không làm giấy tờ mua bán và không làm thủ tục sang tên. Do đó, cần tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu, nếu quá thời hạn không có người đến nhận đề nghị tiến hành phát mãi tài sản, sung công quỹ nhà nước.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  2. Tuyên bố bị cáo Tạ Ngọc M phạm tội: “Cướp tài sản”,

  3. Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  4. Xử phạt bị cáo Tạ Ngọc M 09 (chín) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2023.

  5. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  6. Buộc bị cáo Tạ Ngọc M nộp lại số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng vào ngân sách nhà nước.

  7. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
  8. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu 01 (một) xe mô tô hiệu Attila biển số 54V5-4722, số khung: RLGH125ND9D003084, số máy: VMVTFBD003084. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tiến hành tịch thu, phát mãi tài sản nộp vào ngân sách nhà nước.

    (Theo Phiếu nhập kho số NK25/189C ngày 12/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

  9. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  10. Buộc bị cáo Tạ Ngọc M nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  11. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
  12. Bị cáo Tạ Ngọc M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản

  • Số bản án: 149/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger