|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 149/2025/HNGĐ-ST Ngày 19 - 12 - 2025 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Út
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm
Ông Phạm Văn Mười
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 224/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2113/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Bảo C; Sinh năm: 1980. Căn cước công dân số [...] cấp ngày 24/4/2021. Có mặt
Địa chỉ: Số E, Q, khóm B, phường T, tỉnh Cà Mau;
- Bị đơn: Anh Phan Tuấn K; Sinh năm: 1980. Căn cước công dân số [...]. Vắng mặt
Địa chỉ: Số E, Q, khóm B, phường T, tỉnh Cà Mau;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đặng Thị Bảo C trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh K tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Cà Mau) vào ngày 19/12/2005, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 65/2005. Quá trình chung sống vợ chồng hay cãi vã, không có tiếng nói chung từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không được, hiện vợ chồng không còn sống chung với nhau, không quan tâm nhau, không còn tình cảm với nhau nên chị xin ly hôn với anh K.
- Về con chung: Chị và anh K có 02 con chung tên Phan Phú T, sinh ngày 28/7/2006 và Phan Ngọc Thư A, sinh ngày 16/11/2009. Hiện nay 02 con đang sống chung với chị, đối với cháu T đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết, chị yêu cầu được nuôi cháu Thư A, không yêu cầu anh K cấp dưỡng.
Đối với anh Phan Tuấn K: mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập anh K tham gia phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử. Tuy nhiên, anh K vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản nêu ý kiến gởi Tòa án về các vấn đề nguyên đơn yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị C xin ly hôn với anh K được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn đang cư trú tại phường T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng tại phiên tòa xét xử bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu của chị C về việc xin ly hôn với anh K, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hôn nhân của anh chị được xác lập trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Cà Mau) vào ngày 19/12/2005 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị C trình bày quá trình chung sống vợ chồng hay cãi vã, không có tiếng nói chung từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không được, hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau và cũng không còn tình cảm, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Tại phiên tòa chị C xác định trường hợp Tòa án không cho chị ly hôn với anh K chị cũng không chung sống với anh K được nữa.
Đối với anh K mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh về các vấn đề chị C yêu cầu. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản nêu ý kiến gởi Tòa án. Từ đó, cho thấy anh K không có thiện ý hàn gắn cuộc hôn nhân của anh chị.
Qua lời trình bày của chị C và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân của anh K và chị C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C cho chị được ly hôn với anh K.
[3] Về con chung: Chị C xác định quá trình chung sống chị và anh K có 02 con chung tên Phan Phú T, sinh ngày 28/7/2006 và Phan Ngọc Thư A, sinh ngày 16/11/2009. Hiện nay 02 con đang sống chung với chị. Đối với cháu T đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Chị yêu cầu nuôi cháu Thư A, không yêu cầu anh K cấp dưỡng. Tại biên bản ghi ý kiến con chung ngày 30/10/2025, cháu Thư A có nguyện vọng sống chung với mẹ. Nhận thấy, anh K không có ý kiến về vấn đề con chung, chị C có nguyện vọng yêu cầu nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của cháu Thư A. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C giao cho chị C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Ngọc Thư A.
Anh K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị C xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 56,81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Bảo C về việc xin ly hôn với anh Phan Tuấn K.
- Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Phan Ngọc Thư A, sinh ngày 16/11/2009 cho chị C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị Bảo C1 phải chịu 300.000 đồng. Ngày 01/10/2025 chị C1 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo lai thu số 0000722 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu nộp Ngân sách nhà nước.
Anh K không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con chung mà không ai được cản trở.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Út |
Bản án số 149/2025/HNGĐ-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 149/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Bảo Châu về việc xin ly hôn với anh Phan Tuấn Khanh. 2/ Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Phan Ngọc Thư Anh, sinh ngày 16/11/2009 cho chị Châu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Khanh không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con chung mà không ai được cản trở. 3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
