Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2025/DS-ST

Ngày: 17 - 6 - 2025

V/v Tranh chấp

“Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chí Lin.

Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân – là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa: Ông Võ Đông Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1212/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 219/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 143/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
  • Địa chỉ: Số A L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài N (Theo Văn bản ủy quyền ngày 29/10/2024 của Ngân hàng TMCP Q).
  • - Bị đơn: Bà Ngô Khương D, sinh năm 1992.
  • Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Ông N có mặt, bà D vắng mặt không rõ lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 10 năm 2024 và những lời khai tiếp theo, ông Nguyễn Hoài N đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 29/12/2022, bà Ngô Khương D và Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh L đã cùng ký Hợp đồng cho vay và bảo đảm số 669943.22.715.2497472 TD ngày 29/12/2022; Văn kiện sửa đổi, bổ sung văn kiện số 669943.22.715.2497472. TD.PL01 ngày 05/01/2023 và các khế ước nhận nợ số tiền phát vay là 600.000.000đồng, tổng số tiền giải ngân theo hợp đồng là 600.000.000đồng.

Tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng của bà D nêu trên gồm: Xe ô tô nhãn hiệu FORD; số loại: TERITORY; số máy NBG098890, số khung: RL05BYD7MNGR34787; màu sơn: Trắng; biển số: 62A-325.51 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 62001921 do Phòng C công an huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 29/12/2022.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà D đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ bị quá hạn từ ngày 26/4/2024, cụ thể, đến ngày 14/10/2024, bà D đã trả được số tiền gốc 99.988.000đồng, số tiền lãi đã trả là 90.053.284đồng.

Dư nợ tạm tính của bà D tính đến 14/10/2024 tại Ngân hàng là 540.315.416đồng (gốc và lãi).

Ngân hàng đã nhiều lầm gửi thông báo, công văn yêu cầu bà D trả nợ và yêu cầu bà D bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng xử lý theo đúng quy định nhưng bà D đều không thực hiện theo yêu cầu, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi, chính đáng của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã gửi thông báo khởi kiện đến khách hàng và các bên liên quan theo đúng quy định.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc bà Ngô Khương D thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 14/10/2024 là 540.315.416 đồng, bao gồm nợ gốc là 500.012.000 đồng và nợ lãi 40.303.416 đồng.
  2. Buộc bà Ngô Khương D thanh toán phần nợ lãi, nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và bảo đảm số 669943.22.715.2497472.TD ngày 29/12/2022; Văn kiện sửa đổi, bổ sung văn kiện số 669943.22.715.2497472. TD.PL01 ngày 05/01/2023 kể từ ngày 15/10/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bà Ngô Khương D không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiền hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng, các tài sản bảo đảm là: Xe ô tô nhãn hiệu FORD; số loại: TERITORY; số máy: NBG098890, số khung RL05BYD7MNGR34787; màu sơn: Trắng; biển số: 62A-325.51 theo

Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 62001921 do Phòng C Công an huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 29/12/2022.

  1. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Ngô Khương D đối với Ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Ngô Khương D vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên toà, ông N trình bày bổ sung, tính đến ngày xét xử 17/6/2025 thì bà D còn nợ Ngân hàng cả gốc và lãi là 589.088.487đồng (trong đó nợ gốc là 500.013.000đồng, nợ lãi là 72.248.459đồng, nợ lãi trên gốc quá hạn là 12.293.003 đồng, nợ chậm trả lãi là 4.534.025đồng).

Theo biên bản về việc không tiến hàng xem xét, thẩm định tại chỗ được các ngày 20/3/2025 và ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thì không tiến hành xem xét, thẩm định được xe ô tô nhãn hiệu FORD; số loại: TERITORY; số máy: NBG098890, số khung RL05BYD7MNGR34787; màu sơn: Trắng; biển số: 62A-325.51 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 62001921 do Phòng C công an huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 29/12/2022. Lý do bà D đã được triệu tập và thông báo về việc vận chuyển xe ô tô trên đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa để tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ vào lúc 08 giờ 30 phút ngày ngày 20/3/2025 và 08 giờ ngày 21/4/2025, tuy nhiên, bà D vẫn không có mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bị đơn bà Ngô Khương D vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có bất cứ văn bản nào phản hồi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hợp đồng cho vay và bảo đảm giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với bà Ngô Khương D là giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện giữa hai bên, phù hợp với quy định của pháp luật. Bà D không trả gốc và lãi cho Ngân hàng theo Hợp đồng đã giao kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà D trả gốc và lãi, cũng như nếu không trả được nợ thì sẽ yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô biển số 62A-325.51 là có căn cứ nên đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là tranh chấp được quy định theo Điều 26, Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết, bị đơn là bà D có hộ khẩu và hiện đang có mặt tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Do đó, theo Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

[1.2]. Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện bà Ngô Khương D. Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q được xác định là nguyên đơn, bà D là bị đơn trong vụ án.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015, còn thời hiệu khởi kiện.

[1.3]. Xét xử vắng mặt: Bị đơn là bà Ngô Khương D vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[1.4]. Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và pháp luật áp dụng:

Quá trình tố tụng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q xuất trình cho Tòa án Hợp đồng cho vay và bảo đảm số 669943.22.715.2497472.TD ngày 29/12/2022; Văn kiện sửa đổi, bổ sung văn kiện số 669943.22.715.2497472. TD.PL01 ngày 05/01/2023 giữa Ngân hàng với bà D; Tòa án xét xử vụ án trên cơ sở xem xét tài liệu, chứng cứ đã được công khai tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lời khai nhận của các đương sự.

Thời điểm phát sinh tranh chấp luật áp dụng là Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.

[2]. Về nội dung yêu cầu:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q yêu cầu buộc bà Ngô Khương D thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến 17/6/2025 là 589.088.487đồng (trong đó nợ gốc là 500.013.000đồng, nợ lãi là 72.248.459đồng, nợ lãi trên gốc quá hạn là 12.293.003 đồng, nợ chậm trả lãi là 4.534.025đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 18/6/2025 theo thỏa thuận trong Hợp đồng vay và nhận nợ số 669943.22.715.2497472.TD ngày 29/12/2022 cho đến ngày thanh toán xong nợ.

Xét thấy, tại hợp đồng số 669943.22.715.2497472.TD ngày 29/12/2022 thì giữa bà D và Ngân hàng T1 về thời hạn trả, lãi suất cho vay, thời gian trả,...Bà D trả được một thời gian thì không tiếp tục trả là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó,

việc Ngân hàng yêu cầu bà D phải thanh toán số tiền còn nợ (gốc và lãi) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

[3]. Ngân hàng yêu cầu tính lãi suất phát sinh từ ngày vi phạm hợp đồng cho đến ngày xét xử sơ thẩm và yêu cầu lãi suất chậm thi hành đối với nghĩa vụ trả tiền là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

[4]. Ngân hàng yêu cầu khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bà D vẫn không trả nợ theo hợp đồng đã ký thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng xe ô tô nhãn hiệu FORD; số loại: TERITORY; số máy: NBG098890, số khung RL05BYD7MNGR34787; màu sơn: Trắng; biển số: 62A-325.51 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 62001921 do Phòng C Công an huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 29/12/2022 để thu hồi nợ theo đúng quy định trong hợp đồng thế chấp tài sản cũng như quy định của pháp luật. Nếu sau khi xử lý tài sản thế chấp mà vẫn không đủ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án tiếp tục kê biên, phát mãi các tài sản của bà H đến khi thanh toán toàn bộ số nợ. Xét yêu cầu này của Ngân hàng là có căn cứ nên HĐXX ghi nhận.

[5]. Bà Ngô Khương D nhận được các văn bản tống đạt của Tòa án nhưng bà vẫn không đến làm việc, cũng như không có văn bản phản hồi ý kiến nên HĐXX không đề cập, xem xét.

[6]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.

[7]. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000đồng, Ngân hàng TMCP Q1 đã nộp và chi phí xong. Buộc bà D có trách nhiệm trả lại số tiền này cho Ngân hàng TMCP Q1.

[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cụ thể 20.000.000đồng + 4% x (589.088.487đồng – 400.000.000đồng) = 27.563.539đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 186, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 429, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc Hội 12;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Q về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bà Ngô Khương D.

    Buộc bà Ngô Khương D phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền còn nợ tính đến ngày 17/6/2025 là 589.088.487đồng (trong đó nợ gốc là 500.013.000đồng, nợ lãi là 72.248.459đồng, nợ lãi trên gốc quá hạn là 12.293.003 đồng, nợ chậm trả lãi là 4.534.025đồng).

    Kể từ ngày 18/6/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay và bảo đảm số 669943.22.715.2497472.TD ngày 29/12/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q với bà Ngô Khương D.

  2. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000đồng (Ba triệu đồng chẳn), Ngân hàng TMCP Q1 đã nộp và chi phí xong. Buộc bà D có trách nhiệm trả lại số tiền này cho Ngân hàng TMCP Q1.

    Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Ngô Khương D phải chịu 27.563.539đồng án phí dân sự sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước.

    Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đã nộp là 12.806.000đồng (Mười hai triệu, tám trăm, lẻ sáu ngàn đồng chẳn) theo biên lai thu số 0006875 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn .Riêng có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7,

Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 149/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Q tranh chấp Ngô Khương D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger