Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 149/2025/DS-PT

Ngày 30/5/2025

“Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Nhuận.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thành.

Ông Trần Nam Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Mỹ Yên, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Liên, Kiểm sát viên.

Các ngày 28 và 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025, về “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 97/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Duy K, sinh năm 1983, địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1997, địa chỉ: Số A, đường số B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Minh N – VPLS Lê Minh N, địa chỉ: Số A đường H, phường A, Quận F, TP Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị đơn:

1/ Chị Trần Thị L, sinh năm 1979 (vắng mặt).

2/ Chị Trần Thị L1, sinh năm 1981 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Chị Trần Thị L ủy quyền cho chị Trần Thị L1 tham gia tố tụng.

3/ Anh Trần Văn T1, sinh năm 1972, địa chỉ: Số A H, phường H, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

4/ Anh Trần Thanh L2 (Trần Văn L3), sinh năm 1976, địa chỉ: Â, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

5/ Anh Trần Thanh D, sinh năm 1973, địa chỉ: Số A H, phường H, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Thanh D: Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1995, địa chỉ: Số G, đường L, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị B, sinh năm 1935, địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người kháng cáo: Anh Trần Duy K, chị Trần Thị L và chị Trần Thị L1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 18/3/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Cha mẹ của anh là ông Trần Văn C, sinh năm 1948 (chết năm 2018) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953 (chết năm 2017). Cha mẹ anh chung sống có 03 người con chung gồm: Trần Thị L, Trần Thị L1 và Trần Duy K. Quá trình sống chung thì ông bà có tạo lập được khối tài sản gồm: Thửa đất số 675, tờ bản đồ số 03, diện tích 5.200m², loại đất lúa, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 356440 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 15/4/2004 cho hộ ông Trần Văn C; thửa đất số 178, diện tích 6.610m² và thửa số 446, diện tích 2.170m² cùng tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 909878 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 19/12/1995 cho hộ ông Trần Văn C.

Trước khi chung sống với bà Nguyễn Thị H thì ông C sống chung với bà Mai Thị Mười M (Nguyễn Thị H1), sinh năm 1948 (chết năm 2021), ông C và bà H1 có 03 người con chung gồm: Trần Văn T1, Trần Thanh D, Trần Thanh L2. Ông C và bà H1 không còn sống chung với nhau từ năm 1978. Ngoài ra, ông bà không còn tài sản nào khác, trước khi chết thì ông bà không để lại di chúc. Tuy nhiên vào ngày 04/4/2017, ông C có vay của Ngân hàng N3 chi nhánh huyện M số tiền 100.000.000 đồng, khi ông chết thì anh K là người đứng ra trả số tiền vốn lãi cho Ngân hàng tổng cộng 115.109.000 đồng (một trăm mười lăm triệu, một trăm linh chín nghìn đồng). Hiện nay 03 thửa đất trên do anh K đang quản lý sử dụng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính do anh K đang cất giữ. Nay anh Trần Duy K khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:

- Chia thừa kế theo pháp luật các thửa đất số 675, thửa 178 và thửa 446 cùng tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng theo hướng chia làm 05 phần vì thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông C gồm 05 người là ông Trần Văn C, bà Nguyễn Thị H, anh Trần Duy K, chị Trần Thị L, chị Trần Thị L1. Phần ông C được nhận thì đề nghị chia đều cho 06 người con, còn phần bà H thì chia đều cho 03 người con của bà H là anh K, chị L, chị L1. Anh K xin nhận hiện vật và hoàn trả lại giá trị cho các đồng thừa kế, riêng thửa 446 có nền mộ chung của gia đình nên thống nhất chừa lại 01m làm đường đi chung không yêu cầu chia thừa kế.

- Yêu cầu các đồng thừa kế liên đới hoàn trả lại cho anh K số tiền mà anh K đã trả cho Ngân hàng N3 chi nhánh huyện M tổng cộng 115.109.000 đồng (một trăm mười lăm triệu, một trăm linh chín nghìn đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị L và chị Trần Thị L1 trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn anh Trần Duy K về quan hệ nhân thân, tài sản chung của cha mẹ và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của anh K.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Thanh D và người đại diện trình bày:

Ông thống nhất nguồn gốc phần đất tranh chấp tại các thửa số 446, 178 và 675 là của ông Trần Văn C. Ông C sống chúng với bà Nguyễn Thị H1 (Mai Thị Mười M) có 03 người con chung gồm: Trần Văn T1, Trần Thanh L2 và Trần Thanh D. Sau đó, ông C sống chung với bà Nguyễn Thị H có 03 người con chung gồm: Trần Duy K, Trần Thị L và Trần Thị L1. Ngoài ra, ông C không có con riêng hay con nuôi gì khác. Theo chứng cứ Tòa án thu thập cũng như phía nguyên đơn cung cấp thì khoảng thời gian từ năm 1996 đến năm 2004 hộ ông C có 05 người gồm: Ông C, bà H, anh K, chị L, chị L1 khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất 675, riêng đối với thửa 446 và 178 là được cấp vào ngày 19/12/1995 thì hộ ông C gồm: Ông C, bà H1, anh T1, anh D, anh L2, anh K, chị L, chị L1 nên đề nghị Hội đồng xét xử chia phần di sản ông C ra làm 06 phần. Tuy nhiên, do anh D, anh T1, anh L2 chỉ muốn xin hưởng 01 phần đất của cha để lại nên chỉ xin nhận hiện vật là thửa 446 nếu phần đất này có chênh lệch với phần được hưởng thì anh T1, anh L2, anh D đồng ý hoàn tiền chênh lệch cho đồng thừa kế, nếu giá trị thấp hơn phần được hưởng thì không yêu cầu nhận tiền phần chênh lệch. Đối với số tiền anh K trả cho Ngân hàng thì thống nhất chia làm 06 phần. Đồng thời do phần đất thửa 446 có nền mộ của gia đình nên thống nhất chừa lại 01m làm đường đi chung không yêu cầu chia thừa kế. Trong trường hợp thửa đất 446 không đủ diện tích tách thửa cho 03 người gồm anh T1, anh L2, anh D thì đồng ý giao lại cho anh T1 được hưởng toàn bộ thửa 446.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Thanh L2, anh Trần Văn T1 và người đại diện trình bày:

Các anh thống nhất về nguồn gốc phần đất tranh chấp tại các thửa 446, 178, 675, thống nhất quan hệ nhân thân của ông Trần Văn C theo lời trình bày nêu trên của anh Trần Thanh D. Về chia thừa kế, các anh đồng ý yêu cầu của anh D là chia phần di sản ông C ra làm 06 phần. Các anh xin nhận hiện vật là thửa 446, nếu phần đất này có giá trị cao hơn kỷ phần được hưởng thì các anh đồng ý thối tiền lại, nếu thấp hơn thì các anh không yêu cầu trả lại phần chênh lệnh. Đối với số tiền anh K trả cho Ngân hàng thì thống nhất chia làm 06 phần và thống nhất chừa 01m làm đường đi chung vào mộ trong thửa 446 không yêu cầu chia thừa kế. Trong trường hợp thửa đất 446 không đủ diện tích tách thửa cho 03 người gồm anh T1, anh L2, anh D thì đồng ý giao lại cho anh T1 được hưởng toàn bộ thửa 446.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

“Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Duy K về việc chia thừa kế theo pháp luật di sản của ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị H đối với các thửa đất số 446, diện tích theo kết quả đo đạc thực tế là 1.773,1m²; thửa số 178, diện tích theo kết quả đo đạc thực tế là 8.426,6m²; thửa số 675, diện tích theo kết quả đo đạc thực tế là 5.020,9m²; cùng tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Việc phân chia đất cụ thể như sau:

1.1/ Anh Trần Duy K được quyền sử dụng phần đất gồm:

Phần đất được đánh số (1) trên sơ đồ hiện trạng thửa đất 178 thuộc một phần thửa 178, tờ bản đồ số 03, có diện tích 2.765,5 m², tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, có vị trí và tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp phần đất được đánh số 2, có số đo 460,05m.
  • - Hướng Tây giáp phần đất của ông Trần Hoàng E, có số đo 460,25m.
  • - Hướng Nam giáp Kênh thủy lợi, có số đo 6,12m.
  • - Hướng Bắc giáp phần đất giải phóng mặt bằng có số đo 5,80m.

Phần đất được đánh số (3) trên sơ đồ hiện trạng thửa đất 675 thuộc một phần thửa 675, tờ bản đồ số 03, có diện tích 1.683,1 m², tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, có vị trí và tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp phần đất thửa 178, có số đo 170,60m.
  • - Hướng Tây giáp phần đất được đánh số 2, có số đo 169,50m.
  • - Hướng Nam giáp Kênh thủy lợi, có số đo 10,07m.
  • - Hướng Bắc giáp phần đất ông Trần Hoàng E, có số đo 9,76m.

1.2/ Bà Nguyễn Thị L4 được quyền sử dụng phần đất gồm:

Phần đất được đánh số (2) trên sơ đồ hiện trạng thửa đất 178 thuộc một phần thửa 178, tờ bản đồ số 03, có diện tích 2.732,6m², tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, có vị trí và tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp phần đất được đánh số 3, có số đo 459,85m.
  • - Hướng Tây giáp phần đất được đánh số 1, có số đo 460,05m.
  • - Hướng Nam giáp Kênh thủy lợi, có số đo 6,12m.
  • - Hướng Bắc giáp phần đất giải phóng mặt bằng có số đo 5,80m.

Phần đất được đánh số (2) trên sơ đồ hiện trạng thửa đất 675 thuộc một phần thửa 675, tờ bản đồ số 03, có diện tích 1.674,3 m², tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, có vị trí và tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp phần được đánh số 3, có số đo 169,50m.
  • - Hướng Tây giáp phần đất được đánh số 1, có số đo 168,41m.
  • - Hướng Nam giáp Kênh thủy lợi, có số đo 10,06m.
  • - Hướng Bắc giáp phần đất ông Trần Hoàng E, có số đo 9,77m.

Buộc bà Nguyễn Thị L4 có nghĩa vụ trả lại cho anh Trần Duy K số tiền 19.184.833 đồng (Mười chín triệu, một trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm ba mươi ba đồng).

1.3/ Bà Nguyễn Thị L5 được quyền sử dụng phần đất gồm:

Phần đất được đánh số (3) trên sơ đồ hiện trạng thửa đất 178 thuộc một phần thửa 178, tờ bản đồ số 03, có diện tích 2.744,5m², tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, có vị trí và tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp phần đất ông Lê Hữu N1 và ông Mạch Văn H2, có số đo 459,65m.
  • - Hướng Tây giáp phần đất được đánh số 2, có số đo 459,85m.
  • - Hướng Nam giáp Kênh thủy lợi, có số đo 6,13m.
  • - Hướng Bắc giáp phần đất giải phóng mặt bằng có số đo 5,80m.

Phần đất được đánh số (1) trên sơ đồ hiện trạng thửa đất 675 thuộc một phần thửa 675, tờ bản đồ số 03, có diện tích 1.663,5 m², tọa lạc tại ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, có vị trí và tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp phần được đánh số 2, có diện tích 168,41m.
  • - Hướng Tây giáp phần đất bà Nguyễn Thị Á, có số đo 167,31m.
  • - Hướng Nam giáp Kênh thủy lợi, có số đo 10,08m.
  • - Hướng Bắc giáp phần đất ông Trần Hoàng E, có số đo 9,77m.

Buộc bà Nguyễn Thị L5 có nghĩa vụ trả lại cho anh Trần Duy K số tiền 19.184.833 đồng (Mười chín triệu, một trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm ba mươi ba đồng).

1.4/ Chia cho anh Trần Văn T1, anh Trần Thanh D, anh Trần Thanh L2 cùng chung quyền sử dụng đối với:

- Diện tích 607,3m² (bao gồm loại đất thổ cư 150m² và loại đất LNK là 457,3m²) thuộc một phần thửa 446 (phần đất nay được ký hiệu phần (3) trong sơ đồ kèm theo bản án), có vị trí và tứ cận như sau:

  • + Hướng Đông giáp phần đất còn lại thửa 446 (không chia thừa kế) có số đo 40m.
  • + Hướng Tây giáp thửa đất số 181 có số đo 38,58m.
  • + Hướng Nam giáp phần đất giải phóng mặt bằng của thửa 446 có số đo 15,84m.
  • + Hướng Bắc giáp phần đất còn lại thửa 446 (không chia thừa kế) có số đo 15,16m.

- Diện tích 500m² (bao gồm loại đất thổ cư 150m² và loại đất LNK là 350m²) thuộc một phần thửa 446 (phần đất nay được ký hiệu phần (1) trong sơ đồ kèm theo bản án), có vị trí và tứ cận như sau:

  • + Hướng Đông giáp phần đất còn lại thửa 446 (không chia thừa kế) có số đo 33,83m.
  • + Hướng Tây giáp thửa đất số 181 có số đo 35,24m.
  • + Hướng Nam giáp phần đất còn lại thửa 446 (không chia thừa kế) có số đo 14,74m.
  • + Hướng Bắc giáp lộ bê tông có số đo 14,30m.

2/ Ghi nhận ý kiến của các đương sự không yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất tích 504,5m², loại đất LNK, thuộc một phần thửa số 446 (phần đất nay được ký hiệu phần (2) trong sơ đồ kèm theo bản án), để sử dụng làm khu mộ và đường đi chung, phần đất này có vị trí và tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp thửa đất 176 có số đo 100,82m
  • - Hướng Tây giáp phần đất còn lại thửa 466 đã phân chia thừa kế và giáp thửa 181, bao gồm các đoạn: 40m + 15,16m + 27m + 14,74m + 33,83m.
  • - Hướng Nam giáp phần đất giải phòng mặt bằng tuyến Quản lộ Phụng Hiệp có số đo 01m.
  • - Hướng Bắc giáp lộ bê tông có số đo 01m.

3/ Anh Trần Văn T1, anh Trần Thanh L2, anh Trần Thanh D, chị Trần Thị L và chị Trần Thị L1 mỗi người có nghĩa vụ hoàn trả lại cho anh Trần Duy K số tiền 19.184.833 đồng (mười chín triệu, một trăm tám mươi bốn nghìn, tám trăm ba mươi ba đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án về tiền nêu trên có đơn yêu cầu thi hành án, thì những người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, còn phải chịu tiền lãi do chậm thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả.

4/ Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:

4.1/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Trần Duy K phải chịu số tiền án phí chia thừa kế là 53.073.402 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.625.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005377, ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Anh Trần Duy K còn phải nộp thêm số tiền án phí là 34.448.400 đồng.

Chị Trần Thị L phải chịu án phí chia thừa kế là 53.073.402 đồng và án phí về thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho anh K là 959.242 đồng. Tổng cộng chị Trần Thị L phải chịu số tiền án phí là 54.032.644 đồng.

Chị Trần Thị L1 phải chịu án phí chia thừa kế là 53.073.402 đồng và án phí về thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho anh K là 959.242 đồng. Tổng cộng chị Trần Thị L1 phải chịu số tiền án phí là 54.032.644 đồng.

Anh Trần Văn T1, anh Trần Thanh D và anh Trần Thanh L2 mỗi người phải chịu án phí chia thừa kế là 11.130.200 đồng và án phí về thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho anh K là 959.242 đồng, tổng cộng mỗi người phải chịu là 12.089.442 đồng.

4.2/ Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Tổng số tiền là 42.000.000 đồn, anh Trần Duy K, chị Trần Thị L, chị Trần Thị L1, anh Trần Văn T1, anh Trần Thanh D, anh Trần Thanh L2 mỗi người phải chịu là 7.000.000 đồng. Do anh K đã tạm ứng trước số tiền trên để thực hiện thủ tục tố tụng nên những người còn lại có nghĩa vụ phải hoàn trả cho anh K tương ứng với số tiền mình phải chịu là 7.000.000 đồng.

5/ Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Duy K, chị Trần Thị L, chị Trần Thị L1 không phải chịu án phí, nên mỗi người được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mình đã nộp 300.000 đồng theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án: Số 0006510 ngày 07/10/2024, số 0006516 ngày 08/10/2024, số 0006517 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

6/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Phạm Quang N2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2025/DS-PT ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 149/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger