|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 149/2025/DS-PT Ngày 27 tháng 6 năm 2025 Về việc “Tranh chấp hợp vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hữu Giàu.
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Ngọc Thúy và bà Trần Thị Thúy Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mộng Cầm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 110/2025/TLPT-DS ngày 10/6/2025, về việc “Tranh chấp hợp vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 317/2025/QĐ-PT ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn P, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số B, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn:
- 2.1. Ông Đặng Văn G, sinh năm 1975;
- 2.2. Bà Trương Thị Hoàng D, sinh năm 1979;
- Cùng cư trú: Số F đường N, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Công ty TNHH S1; địa chỉ trụ sở: Số F đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Trương Thị Hoàng D – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng thành viên.
- 3.2. Bà Nguyễn Thị Chúc M, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số B, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Trần Văn P, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số B, đường T, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. (Theo Giấy ủy quyền ngày 22/01/2025).
- 3.1. Công ty TNHH S1; địa chỉ trụ sở: Số F đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa có mặt tất cả các đương sự.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung án sơ thẩm:
Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 18/8/2024 nguyên đơn ông Trần Văn P thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:
Do chỗ quen biết thân thiết nên ông có cho ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D vay số tiền là 5.200.000.000 đồng để dùng vào mục đích sản xuất gia công – dịch vụ thương mại hàng nhôm inox các loại. Thời gian vay trong 01 tháng từ ngày 13/11/2023 đến ngày 13/12/2023, lãi suất 3%/tháng.
Khi vay mượn có cam kết trả lãi hằng tháng và trả vốn đúng hạn. Do vi phạm thỏa thuận nên hai bên thống nhất phương án trả nợ là bà D sẽ chuyển nhượng 02 diện tích đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp cho Công ty TNHH S1 (Công ty do bà D là người đại diện theo pháp luật) gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07588, CS07589 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho Trần Anh T, Phan Thị S ngày 15/4/2016 (Ngày 17/5/2018 cập nhật thông tin chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Công ty TNHH S1 theo hồ sơ CN281/18);
Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ký giữa Công ty TNHH S1 với ông Trần Văn P, bà Nguyễn Thị Chúc M được Văn phòng C1 công chứng, số công chứng 1437 ngày 14/12/2023 để cấn trừ số tiền nợ là 2.000.000.000 đồng. Riêng đối với quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS12384, ông G, bà D không đồng ý chuyển nhượng để cấn trừ nợ.
Như vậy, sau khi trừ đi số tiền 2.000.000.000 đồng thì số tiền nợ gốc ông G, bà D còn nợ ông là 3.200.000.000 đồng. Đến nay ông G và bà D vẫn không thực hiện nghĩa vụ, do đó ông khởi kiện yêu cầu ông G và bà D liên đới nghĩa vụ trả cho ông số tiền 3.200.000.000 đồng và trả lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 13/11/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất mà pháp luật quy định.
Ông Đặng Văn Giàu C đơn trình bày ngày 09/12/2024 gửi Tòa án với nội dung cụ thể như sau:
Từ năm 2010 đến ngày 13/11/2023 ông có vay mượn tiền đáo hạn ngân hàng của ông P. Ngày 13/11/2023 ông có mượn 5.200.000.000 đồng cho việc đáo hạn ngân hàng V – chi nhánh A. Ngày 14/11/2023 ngân hàng không cho ông vay lại. Ông điện thoại cho ông P đến trả lãi vay 02 ngày là 31.200.000 đồng và thông báo cho ông P sự việc trên.
Ông P nhận lãi vay 02 ngày và giành lấy 02 sổ đỏ mà ngân hàng trả lại, còn có những lời hung dữ mang tính chất đe dọa trực tiếp và gián tiếp. Gia đình ông sợ quá, thống nhất theo ý ông P sang tên 02 sổ đỏ cũng như bàn giao nhà xưởng để trừ nợ số tiền đáo hạn ngân hàng như đã nêu trên. Sau khi hoàn tất các thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với 02 sổ đỏ ông có đòi xé giấy nợ 5.200.000.000 đồng. Ông P nói xong rồi giấy nợ không còn giá trị.
Bà Trương Thị Hoàng D; Công ty TNHH S1 vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn P: Buộc ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D liên đới nghĩa vụ trả cho ông P số tiền 3.638.718.000 đồng (Viết bằng chữ: Ba tỷ, sáu trăm ba mươi tám triệu, bảy trăm mười tám nghìn đồng) còn nợ của “Hợp đồng vay vốn do ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D ký nhận ngày 13/11/2023 đối với số tiền 5.200.000.000 đồng”. Trong đó: Nợ gốc là 3.200.000.000 đồng và tiền lãi là 438.718.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Theo đơn kháng cáo ngày 17/4/2025 của ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D. Kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Không đồng ý quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, thống nhất với bản án sơ thẩm.
- - Bị đơn trình bày: Do tin tưởng trong làm ăn nên khi thỏa thuận thực hiện hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất chỉ ghi giá 2.000.000.000 đồng, tuy nhiên thật sự là trừ hết số nợ 5.200.000.000 đồng. Ông G, bà D không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, do đó giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự còn lại không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị đối với bản án sơ thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D: Hội đồng xét xử xét thấy, theo hợp đồng vay vốn ngày 13/11/2023, ông Trần Văn P có cho ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D vay số tiền là 5.200.000.000 đồng. Thời gian vay từ ngày 13/11/2023 đến ngày 13/12/2023, lãi suất 3%/tháng. Tại phiên tòa ông G, bà D thừa nhận hợp đồng vay vốn ngày 13/11/2023 là do ông, bà xác lập với ông P.
Do làm ăn thất bại, ông G và bà D không thực hiện đúng giao kết nên hai bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở trên đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS07588, CS07589, thực hiện theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ký giữa Công ty TNHH S1 với ông Trần Văn P, bà Nguyễn Thị Chúc M được Văn phòng C1 công chứng có số công chứng 1437, ngày 14/12/2023 để cấn trừ số tiền nợ là 2.000.000.000 đồng. Như vậy số tiền còn nợ là 3.200.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện các thủ tục tố tụng nhưng ông G, bà D không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không tham gia phiên hòa giải, đối chất và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo giấy trệu tập và thông báo của Tòa án. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xác định ông G, bà D còn nợ vốn 3.200.000.000 đồng là có căn cứ.
Về lãi suất, tại phiên tòa hai bên thống nhất ông G, bà D đã trả lãi cho ông P được 31.200.000 đồng. Do lãi suất hai bên thỏa thuận 3% là cao nên ông P đồng ý số tiền lãi đã trả điều chỉnh theo lãi suất nhà nước quy định. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm điều chỉnh và áp dụng lãi suất 20%/năm theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tính từ ngày 13/11/2023 đến ngày 13/12/2023 là 31 ngày. Vậy 3.200.000.000 đồng x 20% x 31 ngày = 54.356.000 đồng. Từ ngày 14/12/2023 giữa các bên không có thỏa thuận lãi suất và thời gian trả nợ, do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tính từ ngày 14/12/2023 đến ngày xét xử 31/3/2025 là 474 ngày. Vậy 3.200.000.000 đồng x 10%/năm x 474 ngày = 415.562.000 đồng là có căn cứ. Như vậy tổng số tiền lãi ông G và bà D phải trả cho ông P là: 469.918.000 đồng (54.356.000 đồng + 469.918.000 đồng).
Sau khi trừ lại số tiền lãi đã nhận 31.200.000 đồng. Số tiền lãi còn lại phải trả là: 438.718.000 đồng (469.918.000 đồng - 31.200.000 đồng) .
Như vậy, vốn 3.200.000.000 đồng và lãi 438.718.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi là: 3.638.718.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông G, bà D không chứng minh được Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ký giữa Công ty TNHH S1 với ông Trần Văn P, bà Nguyễn Thị Chúc M được Văn phòng C1 công chứng là để trừ hết số tiền nợ 5.200.000.000. Ông G, bà D cho rằng do tin tưởng nhau nên sơ suất không yêu cầu ông P ghi trong hợp đồng chuyển nhượng là 5.200.000.000 đồng hoặc yêu cầu ông P trả lại hợp đồng vay vốn ngày 13/11/2023.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D giữ nguyên bản bản sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Phúc xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 80/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn P: Buộc ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D liên đới nghĩa vụ trả cho ông P số tiền 3.638.718.000 đồng (Viết bằng chữ: Ba tỷ, sáu trăm ba mươi tám triệu, bảy trăm mười tám nghìn đồng) còn nợ của “Hợp đồng vay vốn do ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D ký nhận ngày 13/11/2023 đối với số tiền 5.200.000.000 đồng”. Trong đó: Nợ gốc là 3.200.000.000 đồng và tiền lãi là 438.718.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông G và bà D phải nộp 104.774.000 đồng (Viết bằng chữ: Một trăm lẻ bốn triệu, bảy trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đặng Văn G và bà Trương Thị Hoàng D mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp lần lược theo biên lai thu số 0002709 và 0002710 cùng ngày 17/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKSND AG; - Phòng KTNV và THA; - TAND huyện; - THA huyện; - Văn Phòng; - Tòa Dân sự; Đương sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ . |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Hữu Giàu |
6
Bản án số 149/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp vay tài sản
- Số bản án: 149/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên án sơ thẩm
