|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 149/2025/DS-PT
Ngày 14-11-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Ông Nguyễn Quang Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Sông Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 160/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn S; nơi cư trú: Thôn Ô, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Duy K; địa chỉ: Tòa nhà F, xóm A, xã Đ, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 31 tháng 10 năm 2025). Có mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị H; nơi cư trú: Số H, phố V, khu đô thị M, tổ dân phố K, phường T, thành phố Hải Phòng. Đều có mặt.
- Người kháng cáo: Ông Phạm Văn N - là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Phạm Văn S và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Do có mối quan hệ họ hàng nên ngày 01 tháng 4 năm 2012, tại nhà của ông Phạm Văn N, ông S đã đồng ý cho ông N vay số tiền 200.000.000 đồng; số tiền trên là tài sản riêng của ông S, có trước khi ông S kết hôn với vợ là bà Dương Thị D vào năm 2015. Việc vay tiền giữa các bên được lập thành văn bản, có chữ ký của ông S và ông N với sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn L. Hợp đồng được lập thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. Tuy trong hợp đồng không ghi về lãi suất và thời hạn vay nhưng ông S và ông N thỏa thuận miệng lãi suất vay là 10%/năm, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2012. Khi ông S giao cho ông N số tiền 200.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H (là vợ ông N) có mặt, chứng kiến toàn bộ việc vay và không phản đối; số tiền vay được ông N và bà H sử dụng chung cho gia đình.
Đến hết thời hạn vay, ông S đã nhiều lần yêu cầu ông N và bà H thanh toán khoản nợ trên nhưng ông N không thực hiện. Vì vậy, ông S khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông N và bà H phải trả ông S số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày vay (ngày 01 tháng 4 năm 2012) đến thời điểm xét xử sơ thẩm với mức lãi suất thoả thuận là 10%/năm. Trường hợp Tòa án không chấp nhận mức lãi suất mà các bên đã thoả thuận như đã nêu trên thì đề nghị áp dụng mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông S.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Văn N - bị đơn đồng thời là người đại diện hợp pháp của đồng bị đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày:
Do có việc cần sử dụng đến tiền nên ông đã liên hệ với ông Phạm Văn S để hỏi vay số tiền 200.000.000 đồng, ông S đồng ý. Ngày 01 tháng 4 năm 2012, tại nhà riêng của ông, ông S cầm hai mẫu bản hợp đồng vay tiền, dẫn theo một người đàn ông đến nhà ông và bảo ông viết vào hai hợp đồng trên. Hai bên thống nhất chỉ viết một phần nội dung (người vay, người cho vay, số tiền vay); đối với các nội dung còn lại, sau khi ông S giao tiền thì sẽ viết tiếp vào hợp đồng. Ông và ông S chưa thỏa thuận về thời hạn vay và lãi suất cho vay. Sau khi viết xong hai bản hợp đồng (có nội dung giống hệt nhau), ông giao lại cho ông S một bản với sự chứng kiến của người đàn ông đi cùng ông S. Chữ viết trong bản hợp đồng do ông giữ là chữ viết của ông. Chữ viết trong bản hợp đồng do ông S giữ có dòng do ông viết, có dòng do người khác viết thêm (ông không biết ai viết). Các chữ ký trong hai bản hợp đồng trên đúng là chữ ký của ông, ông S và người đàn ông đi cùng ông S. Sau khi lập xong hợp đồng, ông S chưa giao tiền cho ông, giữa ông và ông S chưa phát
sinh khoản nợ. Vì vậy, ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S và đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Bà Nguyễn Thị H là vợ ông nhưng không chứng kiến, không liên quan đến việc ông và ông S lập hợp đồng vay tiền.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng đã căn cứ vào Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 468, khoản 1 Điều 469, Điều 357, điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn S: Buộc ông Phạm Văn N có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn S số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng, tiền lãi chậm thanh toán nợ gốc từ ngày 23 tháng 4 năm 2025 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08 tháng 8 năm 2025) là 5.917.808 đồng, tổng là 205.917.808 đồng.
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn S về việc buộc ông Phạm Văn N có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn S số tiền lãi là 254.082.192 đồng và buộc bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm liên đới trả nợ cùng ông Phạm Văn N.
Ngoài ra, bản án còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18 tháng 8 năm 2025, bị đơn là ông Phạm Văn N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn S.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc kháng cáo của các đương sự đảm bảo đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Hợp đồng vay tiền ngày 01 tháng 4 năm 2012 giữa ông Phạm Văn S và ông Phạm Văn N được ký kết trên cơ sở tự nguyện, chủ thể ký kết hợp
đồng là những người có năng lực hành vi dân sự; nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Trong hợp đồng đã ghi rõ người vay tiền là ông Phạm Văn N, người cho vay tiền là ông Phạm Văn S và số tiền vay là 200.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, tuy ông N cho rằng chưa nhận được số tiền trên do các bên chưa thoả thuận hết các nội dung trong hợp đồng nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai trên của mình. Vì vậy, việc Toà án cấp sơ thẩm buộc ông N phải trả cho ông S số tiền nợ gốc và số tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm, tổng cộng 205.917.808 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn N và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do kháng cáo của ông Phạm Văn N không được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn là ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị H cư trú tại số H, phố V, khu đô thị M, tổ dân phố K, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (cũ). Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương (cũ) (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng) thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Ngày 08 tháng 8 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án; tại phiên toà ông Phạm Văn N có mặt. Vì vậy, ngày 18 tháng 8 năm 2025, Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng nhận được đơn kháng cáo của ông Nhất L1 vẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Trước khi mở phiên toà và tại phiên toà, ông Phạm Văn N đề nghị Toà án trưng cầu giám định chữ viết, nét mực, thời điểm viết và chữ ký, chữ viết của người làm chứng trong hợp đồng vay tiền giữa ông N và ông S. Về đề nghị trên của ông N, Hội đồng xét xử đánh giá như sau: Hợp đồng vay tiền ngày 01 tháng 4 năm 2012 được lập thành hai bản, ông N và ông S mỗi người giữ một bản, trong hai bản hợp đồng đều có phần chữ viết của ông N thể hiện thông tin về bên cho vay, bên vay và số tiền vay. Ông N thừa nhận chữ viết và chữ ký trong hai bản hợp đồng trên đúng là chữ ký và chữ viết của mình. Ngoài ra, đối với bản hợp đồng do ông S giữ có viết thêm nội dung về thời hạn vay và ngày có hiệu lực của hợp đồng. Quá trình giải quyết vụ án, ông S thừa nhận nội dung trên do ông S viết thêm sau khi các bên đã ký hợp đồng. Đối với người làm chứng là ông Nguyễn Văn L cũng thừa nhận chữ ký và chữ viết trong hai bản hợp đồng trên đúng là chữ ký và chữ viết của mình. Vì vậy, yêu cầu của ông N về việc đề nghị trưng cầu giám định chữ viết, chữ
ký trong các hợp đồng trên là không cần thiết, không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của ông Phạm Văn N: Hợp đồng vay tiền ngày 01 tháng 4 năm 2012 giữa ông Phạm Văn S và ông Phạm Văn N được ký kết trên cơ sở tự nguyện, chủ thể ký kết hợp đồng là những người có năng lực hành vi dân sự và có đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng. Nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Trong hợp đồng đã ghi rõ người vay tiền là ông Phạm Văn N, người cho vay tiền là ông Phạm Văn S và số tiền vay là 200.000.000 đồng. Hợp đồng có chữ ký của ông S tại mục “Đại diện bên A” (bên cho vay) và chữ ký của ông N tại mục “Đại diện bên B” (bên vay); ông S và ông N đều thừa nhận chữ ký trong hợp đồng trên đúng là chữ ký của mình.
[5] Quá trình giải quyết vụ án, ông N cho rằng giữa ông và ông S đã thống nhất thoả thuận, khi lập hợp đồng vay tiền hai bên chỉ viết một phần nội dung (bao gồm tên của người cho vay, người vay và số tiền vay); đối với các nội dung khác của hợp đồng như thời hạn vay, lãi suất vay v.v... sẽ được viết tiếp sau khi ông S giao tiền cho ông N và trên thực tế sau khi ký hợp đồng ông N đã nhiều lần yêu cầu ông S giao cho ông N số tiền 200.000.000 đồng nêu trên. Tuy nhiên, ông S không thừa nhận lời khai trên của ông N và ông N cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai trên của mình. Trong hợp đồng cũng không có điều khoản nào thể hiện ông N chỉ được nhận tiền sau khi các bên đã điền đầy đủ các nội dung còn lại của hợp đồng. Điều này cũng phù hợp với lời khai của người làm chứng là ông Nguyễn Văn L thể hiện vào ngày 01 tháng 4 năm 2012, tại nhà của ông N, ông L đã trực tiếp chứng kiến việc ông S giao cho ông N số tiền 200.000.000 đồng. Vào ngày 01 tháng 4 năm 2012 tại nhà ông N, nếu giữa các bên chỉ thoả thuận điền một số nội dung của hợp đồng và chưa có việc giao nhận tiền thì không có lý do gì để ông N ký vào bản hợp đồng trên, đồng thời đồng ý để ông Nguyễn Văn L ký xác nhận với tư cách là người chứng kiến việc vay tiền giữa ông S và ông N. Việc hợp đồng chưa được điền đầy đủ thông tin không phải là cơ sở để xác định giao dịch vay tiền giữa ông N và ông S vô hiệu.
[6] Từ những phân tích trên, việc Toà án cấp sơ thẩm buộc ông Phạm Văn N phải trả cho ông Phạm Văn S số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và số tiền lãi tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết thời gian hợp lý đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 5.917.808 đồng (thuộc trường hợp khoản vay không có kỳ hạn và không có lãi), tổng cộng 205.917.808 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn N và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[7] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn S chỉ được chấp nhận một phần nên ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Toà án chấp nhận. Ông Phạm Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của ông S đối với ông N được Toà án chấp nhận.
Kháng cáo của ông Phạm Văn N không được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, Điều 148 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 468, khoản 1 Điều 469, Điều 357, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Khoản 4 Điều 26 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
X: Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn N và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn S: Buộc ông Phạm Văn N phải trả cho ông Phạm Văn S số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng và số tiền lãi tính từ ngày 23 tháng 4 năm 2025 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08 tháng 8 năm 2025) là 5.917.808 đồng, tổng cộng là 205.917.808 đồng (hai trăm lẻ năm triệu chín trăm mười bảy nghìn tám trăm lẻ tám đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn S về việc buộc ông Phạm Văn N phải trả cho ông Phạm Văn S số tiền lãi là 254.082.192 đồng và buộc bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm liên đới trả nợ cùng ông Phạm Văn N.
-
Về án phí:
- Ông Phạm Văn S phải chịu 12.704.109 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Phạm Văn S đã nộp 11.600.000 đồng - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001367 ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (cũ). Ông Phạm Văn S còn phải nộp tiếp 1.104.109 đồng (một triệu một trăm lẻ tư nghìn một trăm lẻ chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Phạm Văn N phải chịu 10.295.890 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ông Phạm Văn N đã nộp 300.000 đồng - tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo B lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001184 ngày 18 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
Ông Phạm Văn N còn phải nộp tiếp 10.295.890 đồng (mười triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng) án phi dân sự sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Bích Diệp |
Bản án số 149/2025/DS-PT ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 149/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn S - Phạm Văn Nh
