|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 149/2024/HS-ST
Ngày: 24/06/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hoàng Nam
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
- Bà Huỳnh Thị Thanh Hà
– Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi Nga – Thư ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lâm – Kiểm sát viên.
Ngày 24/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 164/2024/HSST ngày 11/06/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXX-ST ngày 13/06/2024 đối với bị cáo:
LÒ VĂN THỦY – Sinh năm: 1988; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Hộ khẩu thường trú: Bản H, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi ở: Lang thang không cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Lò Văn C; Họ tên mẹ: Phan Thị T; Vợ là: Hoàng Thị N (đã chết); Có 03 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2018; Đã chỉ bản số: 279 lập ngày 14/05/2024 do Công an quận H cung cấp.
*Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị bắt quả tang về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy ngày 13/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nghiêm Thị N1 – Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh số 3 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13/05/2024, tại khu vực trước cửa số nhà I phố V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội, Tổ công tác Công an phường T trong quá trình làm nhiệm vụ đã phát hiện Lò Văn T1 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T1 tự giác giao nộp từ trong lòng bàn tay phải ra 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng (3x5) cm, bên trong có 03 (ba) gói giấy bạc màu trắng có kích thước mỗi gói khoảng (1x2) cm bên trong chứa chất bột màu trắng, T1 khai nhận 03 gói giấy này là ma tuý Heroine mua cho một người đàn ông không quen biết để hưởng lợi số tiền 100.000 đồng. Ngoài ra Tổ công tác còn tạm giữ của T1 số tiền 100.000 đồng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa T1 về trụ sở Cơ quan Công an để điều tra làm rõ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã ra Quyết định số 2018 ngày 14/05/2024 trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của Lò Văn T1.
Tại Bản kết luận giám định số 3573/KL-KTHS ngày 23/05/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,518 gam”.
Tại trụ sở Cơ quan Công an, Lò Văn T1 khai: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13/05/2024, khi T1 đang ngồi chơi ở trong khu vực C thì gặp một người đàn ông không quen biết, người này nhờ T1 mua hộ ma túy và hứa sẽ trả công cho T1. T1 đồng ý, người này đưa cho T1 số tiền 700.000 đồng, nhờ T1 đi mua 600.000 đồng tiền ma túy Heroine và trả công cho T1 số tiền 100.000 đồng còn lại. Sau khi nhận được tiền, T1 hẹn người đàn ông đứng chờ còn T1 thì đi bộ đến khu vực ngã ba V - T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, T1 gặp một nam thanh niên không quen biết và hỏi mua của nam thanh niên này 600.000 đồng tiền ma túy Heroine. Nam thanh niên đồng ý, T1 đưa nam thanh niên này số tiền 600.000 đồng và nhận lại 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng (3x5) cm, bên trong có 03 (ba) gói giấy bạc màu trắng có kich thước mỗi gói khoảng (1x2) cm bên trong chứa ma túy Heroine. Thủy cầm toàn bộ số ma túy mua được ở trong tay phải rồi đi bộ đến điểm hẹn để giao ma túy. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi T1 đi đến trước khu vực cửa số nhà I phố V, phường T, quận H, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ như trên. Lời khai của Lò Văn T1 phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với người đàn ông nhờ Lò Văn T1 mua hộ ma túy, Cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải T1 xác định địa điểm và người đàn ông này. Kết quả: Thủy xác định được vị trí gặp người đàn ông này là tại khu vực C nhưng không xác định được người đàn ông đã nhờ T1 mua hộ ma túy. T1 khai không rõ nhân thân lai lịch của người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Lò Văn T1: T1 khai không rõ nhân thân lai lịch của nam thanh niên này nên không thể cung cấp cho Cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải T1 xác định địa điểm mua ma túy và nam thanh niên đã bán ma túy cho T1, T1 xác định được địa điểm mua ma túy là tại khu vực ngã ba V - T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được nam thanh niên đã bán ma túy cho T1, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của Lò Văn T1. Đây là tiền T1 hưởng lợi từ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy mà có.
Tại bản Cáo trạng số 168/CT-VKSHBT-HS ngày 31 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội đã truy tố Lò Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức án nhẹ nhất đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng giữ quan điểm truy tố với Lò Văn T1 như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù; Tịch thu tiêu huỷ chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,518 gam; Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền bị cáo được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy mà có.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến: Về tội danh, bị cáo Lò Văn T1 bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khối lượng ma túy bị cáo mua bán không lớn, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý, nhận thức hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, không có nơi cư trú cố định, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là hành vi bột phát, do nông nổi, số tiền hưởng lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy không lớn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xét xử bị cáo mức thấp hơn đề nghị của Viện kiểm sát và cho bị cáo được hưởng mức án ở đầu khung hình phạt. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự, bị cáo có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo, qua giám định là 0,518 gam ma túy loại Heroine cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng là tiền đề gây ra các tội phạm hình sự khác. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu tiên bị cáo bị đưa ra truy tố, xét xử. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế; bị cáo có con còn nhỏ. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,518 gam thu giữ của bị cáo là chất gây nghiện bị cấm lưu hành theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền bị cáo được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy mà có theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Đối với người đàn ông nhờ Lò Văn T1 mua hộ ma túy, Cơ quan Công an đã tiến hành dẫn giải T1 xác định địa điểm và người đàn ông này. Kết quả: Thuỷ xác định được vị trí gặp người đàn ông này là tại khu vực C nhưng không xác định được người đàn ông đã nhờ T1 mua hộ ma túy. T1 khai không rõ nhân thân lai lịch của người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối với nam thanh niên bán ma túy cho Lò Văn T1, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải T1 xác định địa điểm mua ma túy và nam thanh niên đã bán ma túy cho T1, T1 xác định được địa điểm mua ma túy là tại khu vực ngã ba V - T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được nam thanh niên đã bán ma túy cho T1, T1 khai không rõ nhân thân lai lịch của nam thanh niên này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Căn cứ Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt: Lò Văn T1 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,518 gam (01 bì giấy đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo Lò Văn T1);
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền bị cáo được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy mà có.
Tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 13/6/2024, tang vật số 194/24 giữa Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng và Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 12/6/2024 tại Kho bạc Nhà nước quận H.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 phần I Mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: Bị cáo Lò Văn T1 được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Hoàng Nam |
Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 149/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Th - Mua bán trái phép chất ma tuý
