Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 149/2024/HSST

Ngày: 14-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Tài

2. Ông Võ Thanh Đức

Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 và thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử phiên tòa số: 03/2024/TB-TA ngày 05/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Minh T, Sinh năm: 1981 tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố E, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn T1 và bà: Nguyễn Thị H; Chồng: Nguyễn Ngọc P, có 02 con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

2. Nguyễn Thị X (Tên gọi khác: Bé nhỏ), Sinh năm: 1984, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ (Đã chết) và bà: Huỳnh Thị T2; Chồng: Nguyễn Thanh B, có 03 con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

3. Lê Thị Kim T3 (Tên gọi khác: Ú), Sinh năm: 1973, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đức T4 (Đã chết) và bà: Trần Thị M (Đã chết); Chồng: Lê Quốc T5 (Đã chết), có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

4. Trần Văn P1 (Tên gọi khác: T6), Sinh năm: 1983 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B1 (Đã chết) và bà: Trần Thị M1 (Đã chết); Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào trưa ngày 02/5/2024, Nguyễn Thị Minh T tổ chức cúng giỗ tại nhà thuộc khu phố E, phường P, thị xã L, có sự tham gia của Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn xong cả bốn người thống nhất đánh bài tiến lên ăn thua bằng tiền tại nhà T. Sau đó, T mua bài và tất cả đi lên lầu trải mền để đánh bài. Trước khi chơi, X chỉ mang theo 200.000 đồng và T3 thì không mang theo tiền nên nói với T “nếu đánh bài thua thì cho X và T3 mượn tiền” thì T đồng ý.

Về hình thức đánh bài và mức ăn thua như sau: Cả 04 người đánh bài dưới hình thức T7 lên M ăn thua bằng tiền. Theo luật chơi, người về chót sẽ phải chung (trả) cho người về nhất số tiền 100.000 đồng, người về ba sẽ chung cho người về nhì số tiền 50.000 đồng; chặt heo đỏ 100.000 đồng, heo đen 50.000 đồng; ăn trắng thì mỗi người phải chung 100.000 đồng; người nào bị giết ngợp (không đánh được lá bài nào) thì sẽ phải chung cho người về nhất số tiền 200.000 đồng và tính thêm heo, đôi thông, tứ quý.... Ngoài ra, sòng bạc còn quy định người nào ăn trắng hoặc giết ngợp thì nộp xâu cho T để mua bài, nước uống với số tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng.

Khi bắt đầu chơi, T cầm số tiền khoảng hơn 5.000.000 đồng để đánh bạc, lấy ra 1.050.000 đồng để trên sòng, số tiền còn lại để trong túi quần; P1 khai lấy ra 650.000 đánh bạc, số tiền còn lại 5.300.000 đồng để trong bóp da; X có 200.000 đồng đánh bạc; còn T3 thì không có tiền nhưng nếu chơi thua sẽ mượn tiền của T.

Quá trình đánh bài, X thua hết tiền nên mượn của T 1.000.000 đồng và T lấy tiền trong túi quần ra cho X mượn 1.000.000 đồng, sau đó X đánh thắng và trả lại cho bà T 1.000.000 đồng và T cất lại vào trong túi quần. Trúc ban đầu thắng nhưng đến khoảng 16 giờ thì thua nên mượn của T 500.000 đồng và T cũng lấy tiền trong túi quần ra cho T3 mượn 500.000 đồng đánh bài. Cả bốn người ngồi đánh bài từ khoảng 12 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an phường P bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Thu giữ trên sòng bạc 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng và 01 tấm mền vải màu xanh trắng; 01 hộp giấy màu xanh (hộp tiền xâu) bên trong có 850.000 đồng.
  • - Thu giữ tại vị trí T ngồi số tiền 200.000 đồng; tại vị trí T3 ngồi số tiền 150.000 đồng; tại vị trí X ngồi số tiền 2.200.000 đồng; tại vị trí P1 ngồi số tiền 850.000 đồng.
  • - Thu giữ trong túi quần của Nguyễn Thị Minh T số tiền 4.120.000 đồng và trong bóp da màu đen của Trần Văn P1 số tiền 5.300.000 đồng.
  • - Thu giữ của Nguyễn Thị Minh T 01 điện thoại di động hiệu Galaxy Note 20 màu hồng; Trần Văn P1 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A11 màu đen; Lê Thị Kim T3 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10s màu xanh; Nguyễn Thị X 01 điện thoại di động Masstel màu đen.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Minh T thừa nhận số tiền 200.000 đồng thu tại vị trí T ngồi và số tiền 4.120.000 đồng thu giữ trong túi quần là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc. Nguyễn Thị X thừa nhận số tiền 2.200.000 đồng thu tại vị trí X ngồi là tiền đang đánh bạc. Lê Thị Kim T3 thừa nhận số tiền 150.000 đồng thu tại vị trí T3 ngồi là tiền đang đánh bạc. Trần Văn P1 ban đầu làm việc với Công an phường P khai nhận ban đầu mang theo 5.500.000 đồng, lấy 200.000 đồng ra trước để đánh bạc, còn 5.300.000 đồng cất trong bóp da sẽ sử dụng vào mục đích đánh bạc nếu thua. Tuy nhiên, sau đó P1 thay đổi lời khai chỉ thừa nhận bỏ ra số tiền 650.000 đồng (lúc thì 600.000 đồng) đánh bạc, còn số tiền 5.300.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc; quá trình đánh bạc ăn được 200.000 đồng. Đối với số tiền 850.000 đồng trong hộp giấy màu xanh, lời khai ban đầu khi bị bắt quả tang T khai đây là tiền xâu nhưng sau đó thay đổi lời khai, khai nhận trong số 850.000 đồng này thì chỉ có 250.000 đồng là tiền xâu, còn 600.000 đồng là tiền mà bà Lê Thị Mỹ C (L) trả tiền huê cho T và T để vào hộp giấy màu xanh.

Vật chứng, tài sản thu giữ đã được Cơ quan điều tra như sau:

  • - Trả lại cho: Tuyền 01 điện thoại di động Galaxy Note 20 màu hồng; Phước 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A11 màu đen; Trúc 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A10s màu xanh; Xuân 01 điện thoại di động Masstel màu đen.
  • - Đối với số tiền 13.670.000 đồng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 tấm mền vải màu xanh trắng, 01 hộp giấy màu xanh, đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã L chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L để chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 138/CT-VKSLG-HS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1 cùng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung cáo trạng nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1, đều phạm tội: “Đánh bạc".

Đề nghị áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1 mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1 phải nộp từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

* Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 tấm mền vải màu xanh trắng, 01 hộp giấy màu xanh
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 13.670.000 đồng đang tạm giữ tại Chi cục hành án dân sự thị xã L.
  • - Các bị cáo đều khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
  • - Các bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.
  • - Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo có cơ hội vừa lao động vào chấp hành hình phạt để chăm sóc cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố. Xét, lời khai của các bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà, đủ căn cứ để khẳng định: Đây là vụ án “Đánh bạc” do các bị cáo Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1 cố ý thực hiện. Vào khoảng 12 giờ 30 ngày 02/5/2024, tại nhà Nguyễn Thị Minh T thuộc khu phố E, phường P, thị xã L bị cáo thống nhất đánh bài tiến lên Miền Nam ăn thua bằng tiền với nhau, mức ăn thua chính là 100.000 đồng và 50.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an phường P bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 01 bộ bài tây 52 lá, 01 tấm mền vải màu xanh trắng, tiền trên sòng đang đánh bạc là 3.400.000 đồng và 01 hộp tiền xâu là 850.000 đồng; tiền thu trên người Nguyễn Thị Minh T và Trần Văn P1 mà các bị cáo sẽ sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.420.000 đồng. Tổng số tiền mà các bị cáo T, P1, X và T3 sử dụng để đánh bạc là 13.670.000 đồng.

Với hình thức đánh bài T7 lên M thuộc trường hợp nhiều người cùng đánh bạc với nhau nên các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm với tổng số tiền dùng đánh bạc là 13.670.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1 đã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà các bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền mà không được pháp luật cho phép đều bị nghiêm cấm. Chỉ vì mục đích tư lợi, đam mê thắng thua bằng tiền, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Hành vi của các bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng. Do đó, cần phải xử lý một cách nghiêm minh trước pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Thị Minh T là người chủ động chuẩn bị bài, mền cho các bị cáo còn lại đánh bạc tại nhà bị cáo nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo khai báo thành khẩn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Các bị cáo Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; các bị cáo đều có nhân thân tốt; Việc phạm tội mang tính nhất thời, sau khi gia đình tổ chức đám giỗ thì một số hàng xóm và người trong gia đình chơi đánh bạc với nhau. Hơn nữa, khi được xem xét cho tại ngoại tại địa phương các bị cáo không có vi phạm gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần khoan hồng về phần hình phạt đối với bị cáo, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát và giáo dục, để các bị cáo có điều kiện vừa cải tạo, vừa lao động ổn định cuộc sống, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo có hành vi “Đánh bạc” nhằm mục đích thu lợi. Do đó, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 tấm mền vải màu xanh trắng, 01 hộp giấy màu xanh; Xét, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 13.670.000 đồng, xét đây là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với các tài sản khác không liên quan đến tội phạm, quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1, đều phạm tội: “Đánh bạc”.

[1.1] Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Nguyễn Thị Minh T 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, được tính từ ngày Toà tuyên án (ngày 14/11/2024).

Giao Nguyễn Thị Minh T cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị Minh T phải nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

[1.2] Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Nguyễn Thị X 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, được tính từ ngày Toà tuyên án (ngày 14/11/2024).

Giao Nguyễn Thị X cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị X phải nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

[1.3] Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Lê Thị Kim T3 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, được tính từ ngày Toà tuyên án (ngày 14/11/2024).

Giao Lê Thị Kim T3 cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Thị Kim T3 phải nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

[1.4] Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Trần Văn P1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, được tính từ ngày Toà tuyên án (ngày 14/11/2024).

Giao Trần Văn P1 cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Văn P1 phải nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 tấm mền vải màu xanh trắng, 01 hộp giấy màu xanh
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 13.670.000 đồng theo biên lai 0003884 ngày 30/9/2024 của Chi cục hành án dân sự thị xã L.

Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/9/2024, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L với Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.

[3] Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Thị Minh T, Nguyễn Thị X, Lê Thị Kim T3 và Trần Văn P1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Nhà tạm giữ CA thị xã La Gi;
  • - Cơ quan điều tra CA thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về đánh bạc

  • Số bản án: 149/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Minh T và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger