TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 149/2024/HS-ST Ngày: 26/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Công Đồng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương: Cán bộ hưu.
Ông Đinh Văn Luận: Cán bộ hưu.
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hùng Hoàng Hiệp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thành - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2024/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Cháng Xuân T, sinh năm 2000; Nơi ĐKHKTT: Tổ C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hà Giang; giới tính: Nam; trình độ học vấn: lớp 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cháng Văn S, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai và chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2024. Có mặt tại điểm cầu thành phần trại giam Công an tỉnh B.
- Người bào chữa cho bị cáo (theo chỉ định): Ông Vũ Văn G, luật sư Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1983; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Anh Hoàng Tuấn V, sinh năm: 1999; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Hữu B, Cán bộ tin học Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 30/6/2024 tại đoạn đường thuộc khu D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường T, thành phố T bắt quả tang Cháng Xuân T đang cất giữ trái phép ma túy trong người. Vật chứng thu giữ:
Tại túi quần trước bên phải T đang mặc: 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén hình tròn màu đỏ và màu xanh; 02 túi nilon màu trắng bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng. T khai nhận chất tinh thể màu trắng và các viên nén hình tròn màu đỏ và màu xanh bị thu giữ là ma túy “Đá, N”, T được một người tên H1 thuê đi nhận từ một người tên T2, mục đích để hưởng tiền công.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn T1 và anh Hoàng Tuấn V đồng thời niêm phong vật chứng vào một phong bì theo quy định. Ngoài ra, còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 gắn sim số 0362.359.727.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại khu phố R, phường P, thành phố T nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 1.604/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, có khối lượng 17,5208 gam.
- Các viên nén hình tròn màu đỏ, màu xanh trong phong bì niêm phong là ma túy, loại ma túy Methamphetamine, có khối lượng 28,5537 gam.
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Quá trình điều tra xác định: Cháng Xuân T và người phụ nữ tên H1, sinh năm 1992 ở Lạng Sơn (T không biết rõ họ, địa chỉ cụ thể) là bạn xã hội cùng thuê trọ tại khu phố R, phường P, thành phố T. Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 30/6/2024, khi T đang uống nước tại khu trọ thì H1 gọi điện qua ứng dụng Zalo từ khoản “Hoa N1” đến tài khoản “Tiến Bịp” của T, rủ T đi cùng H1 đến khu phố D, phường T gặp T2 là bạn xã hội của H1 (không rõ, nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể) lấy ma túy về cho H1, xong việc H1 trả tiền công cho T 1.000.000 đồng.
T đồng ý rồi đi đến chỗ H1 đang đợi. Sau đó, cả hai cùng đi taxi (T không rõ hãng taxi, biển kiểm soát, người điều khiển) đến khu D, phường T. Khi đến nơi, xe taxi chở T và H1 dừng lại. H1 cho T tài khoản Zalo tên “Táo Nên Tỉnh” của T2 để T liên lạc nhận ma túy. T gọi điện cho T2 hỏi T2 ở đâu để đến nhận ma túy cho H1. T2 bảo T đi vào một ngõ để nhận ma túy. Sau đó, T một mình đi vào ngõ gặp T2, còn H1 đợi trên xe taxi. Khi gặp T2, T2 đưa cho T 01 túi nilon màu xanh bên trong có các viên nén màu xanh, màu đỏ và 02 túi nilon màu trắng, bên trong 02 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy “Đá, N”. T cầm 03 túi ma túy cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi ra ngoài chỗ xe ô tô taxi đang đợi để đưa ma túy cho H1. Hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ một mình trên đường thuộc địa phận khu D, phường T, thành phố T để mang ma túy ra cho H1 thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Thấy T bị lực lượng Công an kiểm tra, H1 cùng xe taxi bỏ đi đâu không rõ.
Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 gắn sim số 0362.359.727 thu giữ của T xác định: Tại ứng dụng Zalo, T đăng ký số điện thoại 0362.359.xxx, tài khoản tên “Tiến Bịp”. Trong phần nhật ký cuộc gọi ứng dụng Zalo thể hiện cuộc gọi đi, đến với tài khoản Z “Hoa N1” và “Táo Nên Tỉnh”. T khai nhận tài khoản “Hoa N1” là của người phụ nữ tên H1 thuê T mang ma túy; tài khoản “Táo Nên Tỉnh” là của người đàn ông tên T2, người giao ma túy cho T mang về cho H1. Các tài khoản “Tiến Bịp”, “Hoa N1”, “Táo Nên T3” không có dữ liệu tin nhắn.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 155/CT-VKSBN-P1 ngày 22/10/2024 của VKSND tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Cháng Xuân T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố, bị cáo không thắc mắc gì về nội dung, các diễn biến, hành vi phạm tội của bị cáo đã được nêu trong bản cáo trạng mà chỉ đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu luận tội giữ nguyên tội danh của bị cáo như Cáo trạng truy tố. Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Cháng Xuân T từ 15 đến 16 năm tù.
Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 đã qua sử dụng và tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định.
Luật sư Vũ Văn G bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều khoản truy tố đối với bị cáo T của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải lại có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp nhất đối với bị cáo.
Bị cáo Cháng Xuân T nhất trí với quan điểm của luật sư, không bào chữa gì thêm. Trong nội dung đối đáp, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 30/6/2024, tại đoạn đường thuộc khu D, phường T, thành phố T, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường T, thành phố T bắt quả tang Cháng Xuân T đang vận chuyển trái phép 46,0745 gam ma túy loại Methamphetamine cho đối tượng tên H1 để nhận tiền công 1.000.000 đồng. Khi T chưa kịp giao ma túy và nhận tiền công thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ ma túy.
Vì vậy, có đủ căn cứ để xác định Cháng Xuân T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo,
Hội đồng xét xử thấy: T có nhân thân tốt. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Đối với vật chứng của vụ án là 01 điện thoại di động Iphone 6 đã qua sử dụng là công cụ phạm tội, còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung công.
Đối với 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Liên quan trong vụ án còn có: Đối tượng tên H1 theo T khai là người thuê T đi nhận ma túy mang về cho H1 và đối tượng tên T2 là người đưa ma túy cho T nhưng T không biết họ, lai lịch, địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an phường P và Công an phường T, thành phố T nhưng không có kết quả nên không xử lý trong vụ án là phù hợp.
[7] Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Cháng Xuân T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt Cháng Xuân T 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 30/6/2024. Quyết định duy trì Quyết định tạm giam số 163/2004/HSST-QĐTG ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo Cháng Xuân T để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 đã qua sử dụng kèm 01 sim của Cháng Xuân T.
Tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật còn lại sau giám định niêm phong còn nguyên vẹn, một mặt ghi chữ: Kính gửi Cơ quan CSĐT (PC04)- Công an tỉnh B. Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Cháng Xuân T SN 2000 ở V, Hà Giang vận chuyển trái phép chất ma túy kèm theo KLGĐ số: 1604/KL-KTHS ghi ngày 02/7/2024 của Phòng KTHS- Công an tỉnh B.
Các vật chứng, tài sản trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 14/2025 ngày 22/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo Cháng Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Công Đồng |
Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về vận chuyển trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 149/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cháng Xuân T phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy
