|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 149/2024/HS-ST
Ngày: 23 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tiêm, Bà Bồ Thị Thái
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 150/2024/TLST-HS ngày 29/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST- HS ngày 05/9/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 17/9/2024 đối với bị cáo:
Lù Thị K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 30/4/1971 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi đăng ký thường trú: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (Học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lù Văn G (đã chết) và con bà Lò Thị L - sinh năm 1943; bị cáo có chồng là Hoàng Minh K1, sinh năm 1972; có 01 con sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không.
Tiền sự: Ngày 19/9/2023 UBND thành phố S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Lù Thị K về tội Đánh bạc.
Nhân thân:
- - Ngày 29/8/1998 Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Lù Thị K 02 năm 06 tháng tù về tội: Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
- - Ngày 27/8/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Lù Thị K 07 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- - Ngày 24/2/2011 Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/06/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 20 giờ 45 phút ngày 13/6/2024, tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S, tổ công tác Công an Phường C phối hợp với công an phường Q đã phát hiện, bắt quả tang Lù Thị K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lù Thị K khai nhận:
Hồi 20 giờ 20 phút ngày 13/6/2024, Lù Thị K đi bộ từ khu vực chợ C, ra khu vực Nhà văn hóa tổ A, phường Q, thành phố S, mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng và mua được ma túy từ một người thanh niên không quen biết dáng vẻ giống người sử dụng ma túy với giá tiền 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, Lù Thị K cầm gói ma túy vừa mua được cho vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi ngược lại về hướng chợ C để tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác công an phường C bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa 03 viên nén màu hồng đồng dạng (Lù Thị K khai là ma túy hồng phiến, cất giữ để sử dụng).
Ngày 14/06/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh:
03 viên nén màu hồng đồng dạng có khối lượng 0,28 gam, trích 0,19 gam (ký hiệu L) niêm phong làm mẫu gửi giám định, còn lại 0,09 gam (ký hiệu K) làm mẫu lưu kho.
Kết luận giám định số 1289/KL - KTHS ngày 16/06/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,28 gam loại Methamphetamine".
Tại bản Cáo trạng số 400/CT- VKS ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lù Thị K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lù Thị K khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nhất trí nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Thị K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lù Thị K từ 18 tháng đến 22 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn Công an thành phố S niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lù Thị K - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 13/6/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy trắng; Mẫu lưu K = 0,09 gam”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 084894".
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo:
Vào ngày 13/6/2024, Lù Thị K đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- - Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 13/6/2024 tại tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lù Thị K.
- - Kết luận giám định số 1289/KL - KTHS ngày 16/06/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,28 gam loại Methamphetamine".
- - Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Lù Thị K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Lù Thị K với số lượng tàng trữ 0,28 gam Methamphetamine đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
- - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử nhiều lần các tội phạm liên quan đến chất ma tuý: Ngày 29/8/1998 Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Lù Thị K 02 năm 06 tháng tù về tội: Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 27/8/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Lù Thị K 07 năm về tội: Mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 24/2/2011 Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo 24 tháng thù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Đối với nguồn gốc 0,28 gam Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai nhận do bị cáo mua của người đàn ông không biết tên, tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
[6] Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 mẫu lưu ký hiệu K = 0,09 gam ma túy còn lại sau khi trừ giám định, 01 vỏ niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy màu trắng, xét thấy là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
-
Tuyên bố bị cáo Lù Thị K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Xử phạt bị cáo Lù Thị K 22 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 13/6/2024).
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn Công an thành phố S niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong. Mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Lù Thị K - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 13/6/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy trắng; Mẫu lưu K = 0,09 gam”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 084894”.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
-
Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Lù Thị K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo Lù Thị K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Quỳnh Trang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Hà Văn Tiêm |
Bồ Thị Thái |
Đào Thị Quỳnh Trang |
Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự)
- Số bản án: 149/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 13/6/2024, Lù Thị Kh đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng
