Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 149/2024/HS-ST.

Ngày: 11-12-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Trọng Di

+ Bà Nguyễn Thị Bích Lam

-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn P (Tên gọi khác: P; L); Giới tính: Nam; Sinh ngày 29/8/1985, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi thường trú: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 3/12; Cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1960 (đã chết) và mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1961; A, chị, em ruột: 05 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1996; Vợ: Lý Thị Hồng N1, sinh năm: 1992 (không đăng ký kết hôn, không còn sống chung); Vợ: Thạch Thị Sy T1, sinh năm: 1978 (chưa đăng ký kết hôn); Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.

Quá trình hoạt động nhân thân:

Tại Bản án số 21/2006/HSST ngày 06/7/2006 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xử phạt Nguyễn Văn P 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại Bản án số 17/2020/HSST ngày 22/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xử phạt Nguyễn Văn P 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/6/2021.

Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã vào ngày 22/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T. (Có mặt)

- Bị hại: Nguyễn Thị Phúc D, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Thạch Thị Sy T1, sinh năm 1978. Nơi cư trú: ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh;
  2. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Bình Thuận;
  3. Hồ Văn L, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận;
  4. Trần Lê N2, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận;
  5. Đậu Minh C, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
  6. Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

(Tất cả những Người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/04/2024, Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ theo Kế hoạch số 48/KH-UBND của Ủy ban nhân dân xã C ban hành ngày 08/04/2024 về việc xử lý các hành vi tụ tập buôn bán không đúng nơi quy định, lấn chiếm vỉa hè gồm Nguyễn Văn T2 - Trưởng Công an xã C (Tổ trưởng), Hồ Văn L - Công an viên xã C (Tổ viên), Đậu Minh C - Công an viên xã C (Tổ viên), Trần Lê N2 - Trưởng thôn H (Tổ viên), Nguyễn Thị Phúc D - Cán bộ Địa chính xã C (Tổ viên) tiến hành thực thi nhiệm vụ theo kế hoạch, trong khi thực hiện nhiệm vụ tổ công tác mặc trang phục và đeo thẻ công chức theo đúng quy định. Khi tổ công tác đến khu vực đầu cầu C cũ xã C thuộc thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì phát hiện Thạch Thị Sy T1 có hành vi buôn bán tại nơi cấm buôn bán (vị trí có bảng cấm buôn bán của Ủy ban nhân dân xã C). Tổ công tác tiến hành vận động và yêu cầu T1 dọn dẹp, không được buôn bán tại khu vực này nhưng Tha có biểu hiện không chấp hành nên Nguyễn Thị Phúc D được đồng chí Nguyễn Văn T2 giao nhiệm vụ quay phim chụp ảnh làm căn cứ để xử lý các hành vi vi phạm, D dùng điện thoại cá nhân của D quay phim lại. Trong khi D đang quay phim, T1 có những lời lẽ chửi bới, đe dọa D, sau đó Nguyễn Văn P (là chồng của Thạch Thị Sy T1) cầm cục đá đi đến chửi bới D và đe dọa dùng cục đá đánh D nhưng được các thành viên khác trong tổ công tác ngăn cản và yêu cầu P và T1 chấm dứt hành vi chửi bới. Tha và P vừa dọn dẹp đồ đạc vừa tiếp tục chửi bới D đang làm nhiệm vụ quay phim mặc dù đã được đồng chí Nguyễn Văn T2 giới thiệu và giải thích D là cán bộ nhà nước đang thi hành nhiệm vụ do nhà nước giao. P tiếp tục cầm dao chỉ về phía D đe dọa chém giết D nhưng được lực lượng Công an xã ngăn chặn, P bỏ dao xuống nhưng vẫn tiếp tục chửi bởi D. Đồng chí Nguyễn Văn T2 tiếp tục giải thích cho P và T1 biết D đang thi hành nhiệm vụ do nhà nước giao. P và T1 dọn dẹp được một lúc thì T1 nhặt dao lên chỉ về phía D tiếp tục chửi bới và đe dọa, còn P đi đến chỗ D đang đứng quay phim, đứng cách D khoảng 50cm và nói với D “Đéo má mày, tao xáng bã tai chết mẹ mày” rồi dùng tay trái đánh 01 cái trúng vào vùng đầu bên phải trượt xuống vai phải của D, theo tư thế từ trên xuống, từ phải sang trái thì bị lực lượng Công an xã C khống chế. Tha nhìn thấy P bị khống chế liền chạy tới can ngăn thì cũng bị Công an xã Chí Công ngăn cản và thu giữ của T1 01 con dao màu đen, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại sắc bén, dài khoảng 40cm. Vào lúc 13 giờ 50 phút ngày 09/4/2024, Công an xã C đã tiến hành trích xuất dữ liệu điện tử từ điện thoại di động của Nguyễn Thị Phúc D 01 video thời lượng 07 phút 16 giây ghi nhận diễn biến sự việc. (Bút lục: 68-72, 73-80, 98-104, 106-107, 109-123, 124-142, 146-164)

Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 572/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 19/7/2024 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y – Sở y tế tỉnh B kết luận: Chấn thương tai phải giảm thính lực tai phải mức độ nhẹ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%; Chấn thương tai phải do vật tày gây ra; Chấn thương tai phải có chiều hướng lực tác động từ phải sang trái.

Về tang vật chứng: Đối với 01 đĩa DVD chứa 01 đoạn video thời lượng 07 phút 16 giây ghi nhận sự việc được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án. Đối với 01 con dao màu đen, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại sắc bén, dài khoảng 40cm thu giữ của Thạch Thị Sy T1, do không liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích của Nguyễn Văn P nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã chuyển cho Công an xã Chí Công để xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Phúc D không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn P phải bồi thường gì nên không xem xét, giải quyết.

Tại Bản Cáo trạng số 157/CT-VKSTP-HS, ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Nguyễn Văn P về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm i, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm i, k khoản 1 Điều 134; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22-10-2024.

Bị hại Nguyễn Thị Phúc D có đơn xin xét xử vắng mặt, về dân sự không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn P phải bồi thường gì. Về hình sự yêu cầu xét xử bị cáo Nguyễn Văn P đúng quy định pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong và xác định việc truy tố bị cáo là đúng, không oan và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa, đã làm rõ: Xuất phát từ việc Nguyễn Văn P và Thạch Thị Sy T1 (vợ của P) có hành vi buôn bán tại nơi cấm buôn bán (có bảng cấm buôn bán của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận) thì bị Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ theo Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 08/04/2024 của Ủy ban nhân dân xã C ban hành về việc xử lý các hành vi tụ tập buôn bán không đúng nơi quy định, lấn chiếm vỉa hè yêu cầu dọn dẹp, không được buôn bán tại khu vực này. Sau đó, P có hành vi chửi bới, đe dọa đánh Nguyễn Thị Phúc D (là thành viên của Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ quay phim) và dùng tay trái đánh 01 cái trúng vào vùng đầu bên phải của D gây thương tích 3%. (Tại bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 572/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 19/7/2024 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y – Sở y tế tỉnh B kết luận).

Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích theo quy định tại các điểm i, k khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn P đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, nhưng do xem thường pháp luật và xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo đã thực hiện hành vi trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm gia tăng tình trạng bạo lực đối với một bộ phận thanh thiếu niên, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để nhằm răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân không tốt, đã từng bị kết án về tội trộm cắp, cố ý gây thương tích. Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, cố tình lẫn tránh, gây khó khăn cho Cơ quan điều tra, bị bắt theo Lệnh truy nã nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm i, k khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22-10-2024.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11-12-2024). Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Tuy Phong;
  • -CA huyện Tuy Phong;
  • -THADS huyện Tuy Phong;
  • -Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • -Bị cáo; Bị hại,
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kiêm Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích (criminal case)

  • Số bản án: 149/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: Điểm i, k khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22-10-2024. Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger