|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 149/2024/HS-PT Ngày: 15 - 4 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Công Sự
Bà Trần Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 43/2024/TLPT-HS ngày 29/01/2024 đối với bị cáo Hoàng Quốc T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 498/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo:
Hoàng Quốc T; sinh năm 1984, tại Cần Thơ; Nơi cư trú: Tổ F, Ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 11/12; con ông Hoàng Văn K (chết) và bà Bùi Thị D, sinh năm 1958; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 14/5/2023 đến ngày 23/5/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 14/5/2023, Trương Văn T1 mang theo 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua đi đến bãi đất trống tại vườn ươm cây L, thuộc tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để đánh bạc. Tại đây, T1 thấy có khoảng 05-06 người (chưa rõ lai lịch) đang coi đá gà qua mạng internet, nên rủ những người trên đánh bạc thắng thua bằng tiền, hình thức lắc Bầu cua. Sau đó, Trần Minh T2, Trần Văn D1, Hoàng Quốc T, Tiêu Văn P đến cùng tham gia đánh bạc.
T1 đã làm cái cho T2, D1, T, P và một số người (chưa rõ lai lịch) đánh bạc với cách thức như sau:
Người chơi sử dụng 01 bộ Bầu Cua gồm: 01 tờ giấy được chia 06 ô nhỏ in các hình: Bầu, C, T3, C1, N, G và 03 khối hình lập phương bằng giấy (quân vị) có 06 mặt in các hình tương ứng với các hình như trên ô giấy. Người tham gia đánh bạc sẽ đặt cược tiền thắng thua với người làm cái, tỷ lệ thắng thua là 1 ăn 1, số tiền đặt cược do con bạc tự chọn và người làm cái không quy ước số tiền cược đặt nhỏ nhất, lớn nhất. Người làm cái lấy 03 khối lập phương đặt vào đĩa, sau đó lấy nắp đậy và lắc. Người chơi sẽ đặt tiền cược vào các hình trên giấy. Kết quả nếu số mặt của ba khối lập phương hiện lên là hình nào thì người đặt cược vào hình đó sẽ thắng (có thể thắng từ 01 đến 03 lần số tiền đã đặt cược tuỳ vào số hình trúng) và ngược lại nếu không có thì thua.
Với cách thức đánh bạc như trên, T1, T2, T, P, D1 và một số đối tượng (chưa rõ lai lịch) đã đánh bạc với số tiền dùng vào việc đánh bạc cụ thể như sau:
- Trương Văn T1 đem theo và sử dụng 2.400.000₫ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) để làm cái đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T1 thua 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), thu giữ trên người của Tự 1.000.000đ (Một triệu đồng) dùng đánh bạc.
- Trần Minh T2, Phạm Văn Đ: T2 đem theo và sử dụng 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đánh bạc từ 13 giờ 30 phút đến 13 giờ 45 phút thì thua hết tiền nên vay Phạm Văn Đ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để đánh bạc. Đ biết T2 vay tiền dùng vào việc đánh bạc nhưng vẫn đồng ý cho vay và ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T2 thua 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), thu dưới chiếu bạc 4.800.000₫ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng) là tiền T2 đang dùng đánh bạc (T2 vứt lại dưới chiếu bạc rồi bỏ chạy); thu trên người Đ số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) không sử dụng đánh bạc.
- Hoàng Quốc T đem theo và sử dụng số tiền 3.000.000 (Ba triệu đồng) đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T thắng 2.700.000₫ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), thu trên người T 5.600.000đ (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng) dùng đánh bạc và thu dưới chiếu bạc 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) là tiền T đang đặt ván cuối.
- Tiêu Văn P đem theo và sử dụng số tiền 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, P thua 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), thu giữ trên người Phương 1.000.000đ (Một triệu đồng) dùng đánh bạc.
- Trần Văn D1 sử dụng số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) đánh bạc từ 12 giờ đến 13 giờ 20 phút thì thua hết tiền nên D1 dừng lại không chơi nữa. Khi bị bắt, thu giữ trên người của D1 số tiền 20.000₫ (Hai mươi nghìn đồng) không sử dụng đánh bạc.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi T1, T2, T, P cùng một số đối tượng (chưa rõ lai lịch) đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang, một số đối tượng (chưa rõ lai lịch) bỏ chạy thoát. Thu giữ tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 19.800.000đ (Mười chín triệu tám trăm nghìn đồng), trong đó: Thu trên người các bị can 7.600.000₫ (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) và thu dưới chiếu bạc 12.200.000₫ (Mươi hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Tại Cơ quan điều tra, Trương Văn T1, Trần Minh T2, Hoàng Quốc T, Tiêu Văn P, Trần Văn D1, Phạm Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng gồm: 01 (một) bộ dụng cụ lắc bầu cua;
- - Cơ quan điều tra thu giữ số tiền dùng đánh bạc: 19.800.000đ (Mười chín triệu tám trăm nghìn đồng), trong đó:
- + Thu trên người các bị can số tiền dùng đánh bạc 7.600.000đ (bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) gồm: 1.000.000đ (Một triệu đồng) của T1, 5.600.000đ (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng) của T, 1.000.000đ (Một triệu đồng) của P;
- + Thu trên chiếu bạc 12.200.000đ (Mười hai triệu hai trăm nghìn đồng) gồm 4.800.000đ (bốn triệu tám trăm nghìn đồng) của T2 dùng vào việc đánh bạc (T4 vứt lại chiếu bạc trong quá trình bỏ chạy), 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) của T đang đặt ván cuối và 7.300.000đ (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) là tiền các con bạc (chưa rõ lai lịch) bỏ lại chiếu bạc.
- - Cơ quan điều tra thu trên người các bị can số tiền không sử dụng vào việc đánh bạc là 1.020.000đ (Một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) gồm: 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) của Trần Văn D1 và 1.000.000đ (Một triệu đồng) của Phạm Văn Đ.
- - Cơ quan điều tra thu giữ và đã giao trả các tài sản cho các chủ sở hữu do không liên quan đến việc phạm tội, gồm: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95, màu đen, IMEI 2: 869929059737726, IMEI 1: 8699290597734 cho Trần Minh T2; 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, IMEI: 356107164903174 cho Tiêu Văn P; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng, IMEI: 356548102928445 cho Phạm Văn Đ; 01 điện thoại di động hiệu Galaxy S21 Ultra 5G, màu đen, số Imell: 354505628654683 cho Hoàng Quốc T; 01 điện thoại di động hiệu 12 Promax màu trắng, số seri: F2LDJN9S0D45, số IMEI: 356712112717079 cho Trương Văn T1; 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng gold, số IMEI: 353283074466306 Trần Văn D1.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 498/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Hoàng Quốc T); Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo: Hoàng Quốc T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo: H (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt đi thi hành án nhưng trừ đi thời gian bị cáo bị giam giữ từ ngày 14/5/2023 đến ngày 23/5/2023.
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 26/9/2023 bị cáo Hoàng Quốc T và Phạm Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 27/3/2024 bị cáo Phạm Văn Đ có đơn xin rút đơn kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Thông báo số 78/2024/TB-TA ngày 27/3/2024 về việc rút kháng cáo của Phạm Văn Đ.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Quốc T và Phạm Văn Đ phù hợp về nội dung, hình thức và trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Ngày 27/3/2024 bị cáo Phạm Văn Đ có đơn xin rút đơn kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Thông báo số 78/2024/TB-TA ngày 27/3/2024 về việc rút kháng cáo của Phạm Văn Đ là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Hoàng Quốc T phạm tội “Đánh bạc” và áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Hoàng Quốc T; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Quốc T 06 (sáu) tháng tù là đúng người, đúng tội.
Bị cáo T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, tại cấp phúc thẩm bị cáo nộp giấy xác nhận hoàn cảnh khó khăn là lao động chính chăm sóc mẹ già bị bệnh. Xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, hành vi đánh bạc của bị cáo chỉ là ham vui nhất thời, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng phù hợp với quy định của pháp luật và có tác dụng giáo dục phòng ngừa. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Quốc T và Phạm Văn Đ làm trong hạn luật định, đúng quy định pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Ngày 27/3/2024 bị cáo Phạm Văn Đ có đơn xin rút đơn kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Thông báo số 78/2024/TB-TA ngày 27/3/2024 về việc rút kháng cáo của Phạm Văn Đ là đúng quy định của Điều 348 BLHS.
- Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Quốc T thừa nhận hành vi phạm tội như mô tả tại bản án sơ thẩm; bị cáo xác định không bị oan sai, đồng thời trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm bị cáo không bị ép cung hoặc dùng nhục hình, lời khai của bị cáo hoàn toàn chính xác và tự nguyện. Do đó, bản án sơ thẩm là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung kháng cáo:
Bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo với lý do bị cáo có trình độ học vấn thấp nên hạn chế về nhận thức pháp luật, tại cấp phúc thẩm bị cáo nộp đơn xác nhận cha bị cáo đã chết, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn phải chăm sóc mẹ già yếu, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có ba tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i,s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, không có tình tiết tăng nặng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng phù hợp với quy định của pháp luật và có tác dụng giáo dục phòng ngừa.
- Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
- Đối với các nội dung khác trong Bản án hình sự sơ thẩm số 498/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Quốc T, sửa bản án đối với bản án hình sự sơ thẩm số 498/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo: H (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Quốc T cho UBND nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí HSPT: Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
- Các phần khác của Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 498/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Thanh Bình |
Bản án số 149/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 149/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo kc
