Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 149/2024/DS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Nguyên Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Hoa
  • 2. Bà Nguyễn Thị Xuân Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hữu Yến Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 188/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 155/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3(P1;

Địa chỉ trụ sở: Tầng A, 23, 24 Tòa nhà M, số B T, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Mạnh T– Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Huyền T1- Chức vụ: Tổng Giám đốc (Quyết định số 17/2024/QĐ-CTHĐQT ngày 22/01/2024)

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Ngọc L– Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 – Chi nhánh K(Quyết định số 21/2024/QĐ-TGĐ ngày 22/01/2024).

Người nhận ủy quyền lại: Ông Nguyễn Hữu T2– CV xử lý và thu hồi nợ - Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 chỉ liên hệ: Số D, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa(Giấy ủy quyền số 005/2024/UQ-GĐ ngày 05/3/2024) (có mặt)

Bị đơn: - Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1975;

- Bà Phan Nữ Ái P năm: 1983;

Cùng nơi cư trú: Tổ A, thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Thanh S1 Phan Nữ Ái P8 ký Hợp đồng tín dụng số 0218/2023/KH/HĐTDHM-CN/PGBank ngày 17/5/2023. Nội dung hợp đồng là Ngân hàng đồng ý cấp hạn mức tín dụng cho ông S1 Pvới giá trị tối đa là 2.300.000.000 đồng; mục đích vay bổ sung vốn lưu động (kinh doanh thi công xây dựng dân dụng); lãi suất theo hợp đồng và khế ước nhận nợ kèm theo. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Sbà P8 thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản là nhà ở gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 648486, số vào sổ cấp GCN: CS01349 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K ngày 14/3/2019 cho ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Ái P1; Toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, tài sản mới, tài sản tăng thêm, phần giá trị tăng thêm do đầu tư xây dựng gắn liền với diện tích nhà, đất đã thế chấp, toàn bộ các tài sản gắn liền với đất đã, đang hoặc sẽ hình thành; Toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ các tài sản nêu trên (bao gồm nhưng không giới hạn bởi hoa lợi, lợi tức, quyền nhận tiền bảo hiểm, quyền nhận tiền đền bù, tiền bồi thường, các khoản tiền khác thu được, tài sản khác hình thành, thu được từ việc khai thác, sử dụng, thu hoạch, phá dỡ, các tài sản khác thuộc sở hữu của bên thế chấp...); theo Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số 0218/2023/KH/BĐ ngày 17/5/2023.

Sau khi Ngân hàng giải ngân số tiền 2.300.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 01/0218/2023/KH/KUNN-CN/PGBank vào ngày 18/5/2023, đến các kỳ thanh toán nợ gốc và lãi, bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký. Tạm tính đến ngày 30/9/2024, ông Sbà P2 nợ số tiền 2.713.867.230 đồng. Bao gồm nợ gốc là 2.300.000.000 đồng, lãi trong hạn là 141.111.010 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 12.232.384 đồng, lãi trên dư nợ gốc quá hạn là 260.523.836 đồng.

Do ông Sbà P3 phạm nghĩa vụ đã cam kết nên N khởi kiện yêu cầu:

Buộc bị đơn ông Sbà P4 hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ còn lại, tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 2.713.867.230 đồng. Bao gồm nợ gốc là 2.300.000.000 đồng, lãi trong hạn là 141.111.010 đồng, lãi phạt chậm trả lãi là 12.232.384 đồng, lãi trên dư nợ gốc quá hạn là 260.523.836 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực. Buộc ông S1 Ptiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0218/2023/KH/HĐTDHM-CN/PGBank ngày 17/5/2023 và Khế ước nhận nợ số 01/0218/2023/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 18/5/2023 kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Sbà P5 thanh toán toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số 0218/2023/KH/BĐ ngày 17/5/2023.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Sbà P6 Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông Sbà P7 nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng.

Bị đơn là ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Ái P1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai về vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phần trình bày của đương sự tại phiên tòa thì yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 là có cơ sở. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ an được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần T5 kiện, yêu cầu ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Á P có địa chỉ cư trú ở tổ A, thôn V, xã V thành phố N, tỉnh Khánh Hòaphải trả tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Á P đến Tòa án để giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền và không chấp hành nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về tính có hiệu lực của hợp đồng:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần T6 và ông Nguyễn Thanh Sbà Phan Nữ Ái P8 ký Hợp đồng tín dụng số 0218/2023/KH/HĐTDHM-CN/PGBank ngày 17/5/2023, Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số 0218/2023/KH/BĐ ngày 17/5/2023 và Khế ước nhận nợ số 01/0218/2023/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 18/5/2023. Theo đó, việc ký kết giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối, đe dọa, không vi phạm điều cấm của luật; khi tham gia ký kết, cả hai bên đều có đủ năng lực hành vi dân sự, phù hợp với các quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên hợp đồng có hiệu lực pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

[3.2] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0218/2023/KH/HĐTDHM-CN/PGBank ngày 17/5/2023 và Khế ước nhận nợ số 01/0218/2023/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 18/5/2023, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 đã giải ngân khoản vay cho ông S1 Psố tiền 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng).

Tại Điều 3 của Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ quy định nghĩa vụ trả nợ gốc của khách hàng. Theo đó, thời hạn cho vay là 08 tháng, từ ngày 18/5/2023 đến ngày 18/01/2024; kỳ hạn trả nợ gốc là cuối kỳ. Bị đơn ông Sbà P8 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc cho Ngân hàng. Kể từ ngày phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, yêu cầu trả nợ nhưng ông Sbà P5 thực hiện là đã vi phạm điều khoản thỏa thuận giữa các bên. Do đó, việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần T7 khởi kiện yêu cầu ông S1 Pthanh toán số nợ gốc 2.300.000.000 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.3] Về yêu cầu thanh toán nợ lãi:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 có chức năng hoạt động tín dụng nên lãi suất sẽ do thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng; việc nguyên đơn căn cứ vào lãi suất thỏa thuận thỏa thuận giữa hai bên tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ để tính lãi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông S, bà P3 phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng, không thực hiện theo thỏa thuận quy định tại Điều 5 Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ mà các bên đã ký kết. Như vậy, yêu cầu của Ngân hàng buộc bị đơn ông Sbà P4 hiện nghĩa vụ thanh toán nợ lãi, tạm tính đến ngày 30/9/2024. Bao gồm lãi trong hạn 141.111.010 đồng, lãi phạt chậm trả lãi 12.232.384 đồng, lãi trên dư nợ gốc quá hạn 260.523.836 đồng. Đồng thời tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0218/2023/KH/HĐTDHM-CN/PGBank ngày 17/5/2023 và Khế ước nhận nợ số 01/0218/2023/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 18/5/2023 kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.4] Về xử lý tài sản bảo đảm:

Để đảm bảo nghĩa vụ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Ngân hàng và ông Sbà P8 ký kết Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số 0218/2023/KH/BĐ ngày 17/5/2023. Theo đó, ông Sbà P8 thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản là nhà ở gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 648486, số vào sổ cấp GCN: CS01349 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K ngày 14/3/2019 cho ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Ái P1; Toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, tài sản mới, tài sản tăng thêm, phần giá trị tăng thêm do đầu tư xây dựng gắn liền với diện tích nhà, đất đã thế chấp, toàn bộ các tài sản gắn liền với đất đã, đang hoặc sẽ hình thành; Toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ các tài sản nêu trên (bao gồm nhưng không giới hạn bởi hoa lợi, lợi tức, quyền nhận tiền bảo hiểm, quyền nhận tiền đền bù, tiền bồi thường, các khoản tiền khác thu được, tài sản khác hình thành, thu được từ việc khai thác, sử dụng, thu hoạch, phá dỡ, các tài sản khác thuộc sở hữu của bên thế chấp...).

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã cùng chính quyền địa phương xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đến tại thửa đất số 481, tờ bản đồ số 2 tại địa chỉ thôn V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòađể thẩm định tài sản nhưng nhà có cổng sắt khóa, hàn kín, không có người ở nhà nên không thể tiến hành thẩm định đối với toàn bộ tài sản thế chấp được.

Xét Hợp đồng thế chấp số 0218/2023/KH/BĐ được công chứng tại Văn phòng Cngày 17/5/2023 và việc thế chấp tài sản đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Nchứng nhận biện pháp bảo đảm ngày 17/5/2023 theo quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục thế chấp tài sản của các bên đúng quy định tại Điều 298, 317, 318 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ, quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp ông Sbà P5 thanh toán được khoản nợ là phù hợp với quy định tại Điều 299 và Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có căn cứ để chấp nhận.

Trường hợp số tiền thu được từ việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông Sbà P7 nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu cho Ngân hàng theo quy định tại khoản 3 Điều 307 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật.

[5] Về án phí và chi phí tố tụng:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật. Hlại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 158, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 280, 298, 299, 317, 318, 320, 323, 307 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
  • - Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ, quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3.

Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Á P phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T6 T3 số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 2.713.867.230 đồng (Hai tỷ bảy trăm mười ba triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi đồng). Trong đó, nợ gốc: 2.300.000.000 đồng, lãi trong hạn: 141.111.010 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 12.232.384 đồng, lãi trên dư nợ gốc quá hạn: 260.523.836 đồng; trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (từ ngày 01/10/2024), ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Á P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phát sinh trên dư nợ gốc chưa trả, theo mức lãi suất thỏa thuận tương ứng với Hợp đồng tín dụng số 0218/2023/KH/HĐTDHM-CN/PGBank ngày 17/5/2023 và Khế ước nhận nợ số 01/0218/2023/KH/KUNN-CN/PGBank ngày 18/5/2023 cho đến khi thi hành án xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Á P không thanh toán số nợ trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản là nhà ở gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 648486, số vào sổ cấp GCN: CS01349 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K ngày 14/3/2019 cho ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Ái P1; Toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, tài sản mới, tài sản tăng thêm, phần giá trị tăng thêm do đầu tư xây dựng gắn liền với diện tích nhà, đất đã thế chấp, toàn bộ các tài sản gắn liền với đất đã, đang hoặc sẽ hình thành; Toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ các tài sản nêu trên (bao gồm nhưng không giới hạn bởi hoa lợi, lợi tức, quyền nhận tiền bảo hiểm, quyền nhận tiền đền bù, tiền bồi thường, các khoản tiền khác thu được, tài sản khác hình thành, thu được từ việc khai thác, sử dụng, thu hoạch, phá dỡ, các tài sản khác thuộc sở hữu của bên thế chấp...) theo Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất số 0218/2023/KH/BĐ ngày 17/5/2023, đăng ký thế chấp ngày 17/5/2023 tại Chi nhánh Văn phòng Đ.

Trường hợp đã phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ mà giá trị tài sản bảo đảm không đủ trả các khoản nợ thì ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Á P có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T6 T3 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Sau khi ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Á P thanh toán xong khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 thì Ngân hàng có nghĩa vụ trả các giấy tờ (bản chính) liên quan đến tài sản thế chấp để làm thủ tục giải chấp tài sản bảo đảm cho bên có tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí và chi phí tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Á P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Thanh S2 bà Phan Nữ Á P phải chịu 86.277.345 đồng (T4mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi bảy nghìn ba trăm bốn mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hlại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T3 số tiền tạm ứng án phí là 39.000.000 đồng (Ba mươi chín triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0002303 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Quy định:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Nha Trang;
  • - Chi cục THADS thành phố Nha Trang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Nguyên Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 149/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger