Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 148/2023/HSST

Ngày 20/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Anh

    - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cơ

    Ông Phạm Hồng Quang

    - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an thành phố Đ, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn T - sinh ngày 18 tháng 11 năm 1996, tại TP .; nơi cư trú: Tổ A, P2, Q. L, TP .; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc D (sinh năm 1963) và bà Huỳnh Thị Á (sinh năm 1970).

Tiền án: Ngày 07/5/2019, bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu tuyên phạt 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 50/2019/HS-ST. Ngày 07/11/2022 chấp hành xong.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 04/10/2023, bị Công an quận L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 713/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000 đồng,

Ngày 25/12/2014, bị Công an phường H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 13/QĐ-XPVPHC về hành vi Trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 27/9/2023, bị tạm giữ ngày 27/9/2023, tạm giam ngày 05/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang P – sinh năm 1955; nơi cư trú: A T, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10h00' ngày 27/9/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên tưởng đi đến một quán cà phê (Không rõ địa chỉ) trên đường P, Q. T, TP . gặp một nam thanh niên tên T1 (Không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng. T1 đồng ý bán và giao ma túy cho T tại quán cà phê. Sau khi mua được ma túy, T bỏ gói ma túy vào bên trong túi áo bên trái rồi điều khiển xe mô tô hiệu Wave RS biển kiểm soát 92D1-311.59 đến trước cổng chợ H1 thuộc P. H, Q. L, TP . thì bị Đội cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an quận L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Trần Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật tạm giữ:

  • 01 gói nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy đã được niêm phong đánh ký hiệu A.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có gắn thẻ sim số 0905249840.
  • 01 xe mô tô hiệu Wave RS biển kiểm soát 92D1-311.59.
  • 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn T.

Theo bản kết luận giám định: số 845/KL-KTHS ngày 04/10/2023 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 0,219 gam.

Tại Cáo trạng số 156/CT-VKS ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Trần Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Văn T từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định.
  • Quy trữ 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có gắn thẻ sim số 0905249840 của Tưởng để đảm bảo thi hành án.
  • Trả lại cho bị cáo T 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và tang vật thu giữ được. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 11h45, ngày 27/9/2023, tại trước cổng chợ H1 thuộc P. H, Q. L, TP ., Đội cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an quận L đã phát hiện bắt quả tang Trần Văn T đang có hành vi tàng trữ 0,219 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ ma tuý gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống của dân tộc, ma tuý là tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xử phạt 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 07/11/2022, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cố ý mua ma túy về để sử dụng thể hiện sự bất chấp coi thường pháp luật. Lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, hội đồng xét xử thấy cần thiết xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đồng thời, áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, HĐXX quyết định phạt bổ sung bị cáo Trần Văn T số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

[5] Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo đã từng bị xử phạt 02 năm tù về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, lần này tiếp tục thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên cần xử phạt cao hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát mới phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

[6] Đối với người thanh niên tên T1 bán ma túy cho T hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[7] Trần Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 04/10/2023 Công an quận L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Đối với toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có gắn thẻ sim số 0905249840 của Tưởng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • Trả lại cho bị cáo T 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn T
  • Đối với xe mô tô hiệu Wave RS biển kiểm soát 92D1-311.59 nguồn gốc là của anh Nguyễn Quang P mua năm 2014. Sau đó, năm 2018 anh P bán lại xe này cho một người không rõ nhân thân lai lịch. Còn T khai nhận ngày 27/9/2023 mượn xe này của một người tên B quen biết ngoài xã hội không rõ lai lịch. Do hiện tại chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô này nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 27 tháng 9 năm 2023.

    Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn T số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng)

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tuyên:

    • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định.
    • Quy trữ 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có gắn thẻ sim số 0905249840 của Tưởng để đảm bảo thi hành án.
    • Trả lại cho bị cáo T 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn T.

    (Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 12 năm 2023)

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND. quận Liên Chiểu;
  • - Công an quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục THA. quận Liên Chiểu;
  • - Trại tạm giám CATP.Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2023/HSST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 148/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 15h30’ ngày 23/9/2023, tại ngã ba đường N và N thuộc P. H, Q. L, TP ., Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L đã phát hiện bắt quả tang Trần Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1 gam ma túy, loại Methamphetamin để sử dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger