|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 149/2023/HS-ST Ngày: 21-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Minh,
Ông Tạ Công Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ - Thư ký Toà án của Toà án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Minh Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Võ Tấn L
(tên gọi Khc là Bảo), Giới tính: nam; Sinh ngày 09 tháng 10 năm 1993, tại tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: Tổ X, ấp T, xã TH, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn B và bà Nguyễn Thị T.
Về nhân thân: Bị cáo có một người anh sinh năm 1992. Vợ là Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh năm 1988 (đã ly thân), có 02 con lớn nhất sinh năm 2014 và nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: 01 tiền án năm 2022 tội trộm cắp tài sản, xử phạt 01 năm tù, ra tù ngày 10/5/2023; Tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ ngày 16/8/2023, tạm giam 19/8/2023.
Có mặt bị cáo.
* Bị hại: Công ty TNHH MTV Xây dựng M&E Thương mại Phan L1.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đình T - Giám đốc.
Địa chỉ trụ sở: Số L, Phường X, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lý Kim H, sinh năm 1997 (Xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn F, xã L, huyện C, tỉnh BRVT.
Chổ ở hiện tại: Số G đường V, Đh, DA, tỉnh BD.
* Người có quyền L và nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Trú tại: Ấp TT, xã THĐ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Võ Tân T, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Trú tại: ấp TT, xã TH, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
* Người làm chứng: Nguyễn Anh Kh1, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Trú tại: Ấp TT, xã THĐ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 14/8/2023, Võ Tấn L điều khiển xe mô tô 02 bánh biển số 63B3-217.59 từ nhà tại ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đến công trình xây dựng Giáo xứ Ba Giồng – Giáo phận Mỹ Tho tại ấp Tân Quới, xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang do Công ty TNHH MTV Xây dựng M&E Thương mại Phan L1 làm chủ thầu xây dựng rồi lén lút lấy trộm 73 thanh sắt hình chữ U để lên xe chở đến vựa phế liệu của anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1975, nơi thường trú: ấp Tân Thuận, xã Tân Hội Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang bán được số tiền khoảng 600.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ ngày 16/8/2023, Võ Tấn L tiếp tục điều khiển xe mô tô nêu trên đến công trình xây dựng Giáo xứ Ba Giồng – Giáo phận Mỹ Tho lấy trộm 18 thanh sắt hình chữ L đem đến vựa phế liệu của anh Kh bán được số tiền 1.070.000 đồng. Anh Lý Kim H là người phụ trách công trình xây dựng Giáo xứ Ba Giồng - Giáo phận Mỹ Tho phát hiện mất số sắt nêu trên nên trình báo Công an xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Vật chứng thu giữ, xử lý:
- 73 (bảy mươi ba) thanh sắt Hoà Phát CB400 D12, hình chữ U, chiều dài 01 thanh là 1,62m, tổng chiều dài 73 thanh là 118,26m; 18 (mười tám) thanh sắt Hoà Phát CB400 D20, hình chữ L, chiều dài 01 thanh là 2,53m, tổng chiều dài 18 thanh là 63,54m là tài sản của Công ty TNHH MTV xây dựng M&E thương mại Phan L1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Lý Kim H là đại diện uỷ quyền của Công ty xong.
- 01 xe mô tô hai bánh biển số 63B3-217.59 do anh Võ Tân T, sinh năm 1992, nơi thường trú: ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ sở hữu cho Võ Tấn L mượn để đi làm, việc L dùng xe này để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản anh T không biết nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Tài xong.
- Tiền Việt Nam đồng: 570.000 đồng, đây là tiền bị cáo L có được từ việc bán tài sản trộm cắp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành ra quyết định chuyển vật chứng này đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tiếp tục tạm giữ, chờ xử lý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐĐG ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang kết luận: 73 (bảy mươi ba) thanh sắt Hoà Phát CB400D12, hình chữ U, chiều dài một thanh là 1,62m, tổng chiều dài 73 thanh là 118,26m có giá trị 1.552.137 đồng; 18 (mười tám) thanh sắt Hoà Phát CB400D20, hình chữ L chiều dài một thanh là 2,53m, tổng chiều dài 18 thanh là 65,54m có giá trị là 2.347.721 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.899.858 đồng.
Theo Cáo trạng số 145/CT-VKSCT ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Võ Tấn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Võ Tấn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173; điểm s khoản Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 32, 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo L từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về xử lý vật chứng, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- + Số tiền Việt Nam đồng 570.000 đồng là tiền phạm tội mà có đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- + Vật chứng là xe mô tô biển số 63B3-217 của anh Võ Tân T, sinh năm 1992, nơi thường trú: ấp Tân Thuận, xã Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã xử lý trong quá trình điều tra nên không đặt ra xem xét.
- + Vật chứng bị cáo trộm đã trả lại cho bị hại nhận đủ, bị hại không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện lo cho con và cha mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, những người tham gia tố tụng Khc không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền L và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án.
[3] Lời khai của bị cáo Võ Tấn L tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp bị hại, những người
có quyền L và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản Khm nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ Khc có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Võ Tấn L do cần tiền tiêu xài nên đã L dụng sự sơ hở của người quản lý tài sản nơi bị cáo làm việc để trộm cắp tài sản. Cụ thể, vào ngày 14/8/2023 khoảng 12 giờ là lúc mọi người nghỉ trưa không người trông coi, bị cáo lén lút lấy trộm 73 cây sắt hình chữ U đem đi bán, trị giá tài sản theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản là 1.552.137 đồng. Vào khoảng 12 giờ này 16/8/2023 bị cáo tiếp tục lấy 18 cây sắt hình chữ L trị giá 2.347.721 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Võ Tấn L đã vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Võ Tấn L về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi chiếm đoạt tài sản của người Khc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, trực tiếp xâm phạm tài sản của người Khc được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, làm cho nhân dân hoang mang lo lắng, là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích mà vẫn tiếp tục phạm tội mới chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật. Do đó cần phải có hình phạt tương xứng, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo.
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm theo qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi
quyết định hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đủ tài sản bị trộm, không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Tiền Việt Nam đồng: 570.000 đồng, đây là tiền bị cáo L có được từ việc bán tài sản trộm cắp nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Đối với anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1975 là người mua các thanh sắt của bị cáo trộm cắp. Tuy nhiên, anh Kh không biết và bị cáo L không nói đây là tài sản do phạm tội mà có nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người Khc phạm tội mà có” đối với anh Kh.
[9] Xét đề nghị truy tố của đại diện Việt kiểm sát đối với bị cáo L là có căn cứ và phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[10] Về án phí: Bị cáo Võ Tấn L phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[11] Về quyền Khng cáo: Bị cáo Võ Tấn L có quyền Khng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền Khng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; người có quyền L và nghĩa vụ liên quan có quyền Khng cáo phần liên quan đến quyền L của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Võ Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 32, 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Tấn L 01 năm 06 tháng tù (một năm sáu tháng).
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản
2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền Việt Nam đồng: 570.000 đồng (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/10/2023 bên giao là Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Châu Thành, Tiền Giang với bên nhận là Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, Tiền Giang).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Võ Tấn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền Khng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Bị cáo Võ Tấn L có quyền Khng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
- - Bị hại Công ty TNHH MTV Xây dựng M&E Thương mại Phan L1 có quyền Khng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật;
- - Người có quyền L và nghĩa vụ liên quan có quyền Khng cáo phần bản án có liên quan đến quyền L của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Tiên |
Bản án số 149/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 149/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Tấn L phạm tội trộm cắp tài sản khoản 1 Điều 173 BLHS
