|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 149/2023/HS-PT Ngày: 21-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu
Các Thẩm phán: 1. Ông Phan Thanh Tùng;
2. Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Hậu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023, do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn R đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Huỳnh Văn R, sinh năm: 1978, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn N và bà Nguyễn Thị L; vợ Tạ Mộng T, có 02 con (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại Tòa.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử 01 bị cáo khác về tội “Trộm cắp tài sản”, và những người tham gia tố tụng khác liên quan đến vụ án không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11-2021, Nguyễn Minh N1 rủ rê, bàn bạc với Lê Văn V và Nguyễn Đinh Hữu N2, sinh ngày 25-01-2007, vào ban ngày đến đất rẫy của người dân trên địa bàn Huyện D và huyện G, tỉnh Tây Ninh, để tìm kiếm tài sản là máy bơm nước, máy cắt cỏ, bình xịt thuốc, máy dầu,... không người trông giữ, để đến tối lợi dụng đêm khuya đến lấy trộm đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cả nhóm thống nhất phân công nhiệm vụ: N1 và N2 ở ngoài cảnh giới cho V vào thực hiện hành vi lấy trộm tài sản. Từ ngày 30-11-2021 đến ngày 28-02-2022, N1, V và N2 đã thực hiện tổng cộng 08 vụ trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Hoàng L1, Dương Văn Đ, Nguyễn Trung N3, Võ Văn L2, Đàm Thị M, Nguyễn Văn N4, Lê Thanh M1, Đặng Hoàng T1 và Trần Nam H. Sau khi lấy trộm được tài sản của các bị hại, N1, V và N2 đem bán cho Huỳnh Văn R tổng cộng 05 lần (gồm 04 mô tơ bơm nước và 02 máy dầu) và một số người khác (không rõ nhân thân lai lịch). Cụ thể các vụ trộm cắp tài sản và bán tài sản cho Huỳnh Văn R như sau:
Vụ thứ 1: khoảng 23 giờ ngày 30-11-2021, N1 điều khiển xe môtô biển số 70H9-2792 chở N2, còn V điều khiển xe môtô không biển số đến vườn mãng cầu của anh L1. N1 và N2 ở ngoài cảnh giới, còn V vào lấy trộm 02 môtơ bơm nước công suất 2 ngựa và 1,5 ngựa của anh L1, rồi đem về cất giấu tại nhà của N1. Đến ngày 31-11-2021, N1, V và N2 đem 02 môtơ bơm nước đến bán cho R được 2.000.000 đồng; N1 và V chia mỗi người 750.000 đồng, còn N2 được 300.000 đồng.
Vụ thứ 2: khoảng 22 giờ ngày 02-01-2022, cũng bằng phương thức trên, Nhựt N5 và V đến đất trồng mì của anh Đ lấy trộm 01 môtơ bơm nước công suất 1,75 ngựa của anh Đ. Sau đó, cả ba tiếp tục đến vườn sầu riêng của anh N3, lấy trộm 01 môtơ bơm nước công suất 1,5 ngựa của anh N3, rồi đem về cất giấu tại nhà của N1. Đến ngày 03-01-2022, N1 và N5 đem máy bơm nước của anh Đ bán cho R được 2.000.000 đồng; N1 và V chia mỗi người 750.000 đồng, chia cho N5 500.000 đồng. Đến ngày 30-3-2022, N1 sơn máy bơm nước của anh N3 thành màu xanh, rồi kêu N5 đem đến nhà của R bán thì bị Công an xã C, Huyện D phát hiện.
Vụ thứ 3: khoảng 23 giờ ngày 09-01-2022, cũng bằng phương thức trên, N1, N5 và V đến vườn nhãn của ông L2 lấy trộm 01 môtơ bơm nước công suất 2,5 ngựa của ông L2, rồi đem về nhà của N1 cất giấu. Đến ngày 30-3-2022, N1 sơn máy bơm nước thành màu xanh, rồi kêu N5 đem đến nhà của R bán. N5 về nhà ông ngoại tên Đinh Văn T2 lấy chiếc xe mô tô biển số 70H1 – 225.31 chở máy bơm đi bán thì bị Công an xã C, Huyện D phát hiện.
Vụ thứ 4: khoảng 22 giờ ngày 10-01-2022, cũng bằng phương thức như trên, N1, N5 và V đến khu đất trồng mì của bà M lấy trộm 01 môtơ bơm nước công suất 2,5 ngựa, rồi đem về nhà của N1 cất giấu. Đến ngày 11-01-2022, N1 và N5 đem môtơ bơm nước bán cho R được 2.500.000 đồng, N1 và V chia mỗi người 900.000 đồng, chia cho N5 700.000 đồng.
Vụ thứ 5: khoảng 01 giờ ngày 18-01-2022, cũng bằng phương thức trên, N1, N5 và V đến đất trồng bí của anh M1 lấy trộm 01 máy dầu hiệu SS80 của anh M1, rồi đem về nhà N1 cất giấu. Sau đó, N1 đem bán máy dầu cho R được 3.000.000 đồng, rồi chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng.
Vụ thứ 6: khoảng hơn 16 giờ ngày 13-01-2022, V rủ N5 đến vườn sầu riêng của ông N4 lấy trộm 01 máy cắt cỏ, 01 bình xịt thuốc và 01 môtơ bơm nước công suất 2,5 ngựa, sau đó đem bán 01 máy cắt cỏ cho người nam (không rõ nhân thân lai lịch) được 1.000.000 đồng và bán 01 máy bơm nước cho người tên H1 (không rõ nhân thân lai lịch) được 800.000 đồng; Ven chia cho N5 1.000.000 đồng, V được 800.000 đồng. Riêng 01 bình xịt thuốc thì V đem về cất giấu tại nhà của V.
Vụ thứ 7: khoảng 01 giờ ngày 30-01-2022, V một mình điều khiển xe môtô đến đất trồng tre của anh T1 phát hiện 01 máy dầu hiệu SS100, không người trông giữ, V vào lấy trộm 01 máy dầu của anh T1, rồi đem bán cho R được 4.500.000 đồng.
Vụ thứ 8: ngày 28-02-2022, N1 và N5 đến đất trồng mì của anh H lấy trộm 01 máy dầu hiệu SS90 của anh H, đem về nhà của N1 cất giấu thì bị phát hiện.
* Kết luận định giá tài sản số 19 ngày 21-12-2022 và số 06 ngày 17-3-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh, kết luận:
- - 01 môtơ bơm nước công suất 02 ngựa và 01 máy môtơ bơm nước công suất 1,5 ngựa của anh Nguyễn Hoàng L1 có tổng trị giá 3.300.000 đồng;
- - 01 môtơ bơm nước công suất 1,75 ngựa của anh Dương Văn Đ trị giá 1.200.000 đồng;
- - 01 môtơ bơm nước công suất 1,5 ngựa của anh Nguyễn Trung N3 trị giá 1.300.000 đồng;
- - 01 môtơ bơm nước công suất 2,5 ngựa của ông Võ Văn L2 trị giá 1.530.000 đồng;
- - 01 môtơ bơm nước công suất 2,5 ngựa của bà Đàm Thị M trị giá 1.550.000 đồng;
- - 01 máy cắt cỏ, 01 bình xịt thuốc và 01 môtơ bơm nước công suất 2,5 ngựa của ông Nguyễn Văn N4 có tổng trị giá 3.400.000 đồng;
- - 01 máy dầu hiệu SS80 của anh Lê Thanh M1 trị giá 2.500.000 đồng;
- - 01 máy dầu hiệu SS100 của anh Đặng Hoàng T1 trị giá 2.700.000 đồng;
- - 01 máy dầu hiệu SS90 của anh Trần Nam H trị giá 2.200.000 đồng.
* Về thu giữ và xử lý vật chứng:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số 70H1-225.31 số máy: 5C6H142147; số khung: C6H0FY142128 đã qua sử dụng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu biển số 70H9-2792 số máy: VUMHTYG150FMG*4C101014*; số khung: VTTPCG022TT*021777 đã qua sử dụng.
- - Các tài sản của các bị hại bị mất trộm, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu.
* Về trách nhiệm dân sự: các bị hại L1, Đ, N3, L2, M, M1, T1, H và N4 không yêu cầu bồi thường. Bị cáo R yêu cầu bị cáo N1, V và N5 trả lại 14.000.000 đồng tiền bán tài sản trộm được.
* Về kê biên tài sản: các bị cáo N1 và R không có sở hữu tài sản, nên Cơ quan điều tra không kê biên.
* Đối với Lê Văn V Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can; quá trình điều tra, bị can Ven chết vào ngày 30-6-2023, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can V.
* Đối với Nguyễn Đinh Hữu N2, sinh ngày 25-01-2007, khi thực hiện tội phạm mới 14 tuổi 10 tháng, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ có liên quan đến Công an xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh xử lý hành chính theo quy định.
* Đối với người nam và người tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua máy cắt cỏ và máy bơm nước của V và N2, nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 58/CT-VKSDMC ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh N1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Huỳnh Văn R về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 15-9-2023 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn R 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử bị cáo Nguyễn Minh N1 về tội “Trộm cắp tài sản”, quyết định về các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Ngày 26-9-2023, bị cào Huỳnh Văn R có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà:
- - Bị cáo Huỳnh Văn R giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Bởi các lý do: hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động duy nhất trong gia đình, phải nuôi mẹ già yếu, thường xuyên bệnh tật và 01 đứa con còn đi học.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày ý kiến giải quyết vụ án: cấp sơ thẩm xét xử bị cáo R về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn R, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Bị cáo R không tranh luận.
Lới nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Văn R: bị cáo biết hành vi của bị cáo thực hiện là phạm tội, tài sản đã thu hồi trả lại cho chủ sở hữu; kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn R lập ngày 26-9-2023 còn trong thời hạn, nội dung kháng cáo hợp lệ, phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm không bị khiếu nại; do đó các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đều hợp pháp.
[2] Hành vi của bị cáo thực hiện:
Trong khoảng thời gian từ ngày 30-11-2021 đến ngày 28-02-2022, bị cáo Huỳnh Văn R đã 05 lần thực hiện hành vi tiêu thụ 04 mô tơ bơm nước và 02 máy dầu (nhãn hiệu SS80 và SS100) do bị cáo Nguyễn Minh N1 cùng với Lê Văn V và Nguyễn Đinh Hữu N2 trộm cắp có được đem bán với tổng số tiền 14.000.000 đồng. Khi mua số tài sản trên, bị cáo R biết rõ số tài sản này do N1, V và N2 trộm cắp có được; do đó, hành vi của Huỳnh Văn R đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Tổng giá trị số tài sản bị cáo R tiêu thụ của N1, V và N2 theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh là 10.280.000 đồng. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Văn R theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn R, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1] Trong quá trình điều tra, bị cáo N1 cùng đồng phạm trộm cắp tài sản khai nhận, tài sản trộm cắp có được đem bán cho Huỳnh Văn R 05 lần (gồm 04 mô tơ bơm nước và 02 máy dầu nhãn hiệu SS80 và SS100); khi Cơ quan điều tra triệu tập làm việc, bị cáo R khai nhận đã thực hiện 05 lần tiêu thụ số tài sản như bị cáo N1 cùng đồng phạm đã khai nhận trước đó; như vậy, trường hợp khai nhận này của bị cáo R không phải là tự thú, chỉ là hành vi thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo R 05 lần thực hiện hành vi phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội tự thú” theo quy định tại điểm i, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo R là không đúng. Cấp phúc thẩm không áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo R, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[3.2] Xét thấy, bị cáo R bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lện” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; trong khi đó bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và tình tiết giảm nhẹ có bà nội ruột tên Lê Thị T3 được Chủ tịch nước tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Dó đó, mức hình phạt 06 (sáu) tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo R là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, không nặng.
[3.3] Các lý do bị cáo trình bày trong đơn kháng cáo và tại phiên toà hôm nay như: hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, phải nuôi mẹ già yếu, thường xuyên bệnh tật và 01 đứa con còn đi học, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo kháng cáo, không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới; đối chiếu với quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp của bị cáo Huỳnh Văn R không đủ điều kiện để được hưởng án treo.
[4] Từ những nhận định trên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn R; chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm
[5] Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận, bị cáo Huỳnh Văn R phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn R;
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2023/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn R 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Huỳnh Văn R phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Ngầu |
Bản án số 149/2023/HS-PT ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 149/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
