Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 149/2022/HS-PT

Ngày: 13 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hoài
  • - Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hồng
  • Ông Đặng Ngọc Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 136/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Phan Văn T; do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện DL, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo: Phan Văn T, sinh ngày 07/11/1985 tại Bến Tre; nơi cư trú: Thôn HTh 2, xã TB, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Q và bà Trần Thị Ng; vợ Nguyễn Thị Mỹ L (đã ly hôn), con: 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/3/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn T: Ông Nguyễn Tuấn H – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Phan Công Q – Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Bị hại: Anh Lương Văn Kh, sinh năm: 1988; địa chỉ: Số 343 thôn HTh 2, xã TB, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Lê Cao T – Văn phòng luật sư Bá T – Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Trong vụ án này còn có bị hại khác không kháng cáo; không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 27/01/2022, Lương Văn Kh, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn HTh 2, xã TB, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng rủ Bùi Tuấn H, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn 5, xã TB, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng đi mua gà tại dốc QH, trên đường đi về khi đi ngang nhà của Phan Văn T, Kh nói với H “Ghé đây tí với anh”. Khi đi đến trước cổng nhà của T thì gặp T, Kh dừng xe và cả H đều xuống xe, Kh nói với T về việc phải trả tiền nợ cho bà Mạc Thị Ngh là dì của Kh. T điều khiển xe mô tô đi vào sân nhà thì H và Kh đi bộ phía sau T. H và Kh tiếp tục nói chuyện với T về việc trả nợ cho bà Mạc Thị Ngh. Trong lúc nói chuyện, T chạy ra phía cửa nhà lấy 01 con dao quay lại sân, T dùng dao chém nhiều nhát về phía H trong đó có 01 nhát trúng vào khủy tay và 01 nhát trúng vào lòng bàn tay trái của H gây thương tích. Thấy H bị chém, Kh chạy ra ngoài chỗ để xe mô tô lấy 01 cái cưa mang theo sẵn rồi quay lại vào trong sân nhà T. Khi Kh vừa quay lại cổng thì T dùng dao chém nhiều nhát về phía Kh làm đứt lìa bàn tay phải và thương tích ở tay trái, vai trái. Sau đó, Kh và H bỏ chạy ra khỏi cổng nhà T, T đuổi theo tới cổng thì dừng lại đóng cổng. Kh và H được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện DL.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngày 25/3/2022, Bùi Tuấn H đã làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện DL đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích Trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Bùi Tuấn H và Lương Văn Kh.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 64/2022-TgT ngày 11 tháng 3 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Bùi Tuấn H là 03% (Ba phần trăm). Tổn thương do vật sắc gây nên.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 108/2022-TgT ngày 29 tháng 3 năm 2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Lương Văn Kh là 65% (Sáu mươi lăm phần trăm). Tổn thương do vật sắc gây nên.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện DL đã thu giữ: Một con dao tự chế dài 67cm, chất liệu bằng kim loại, cán dao dài 21 cm, chất liệu bằng kim loại, lưỡi dao dài 46cm, mũi nhọn, chất liệu bằng kim loại. Hiện đang do Chi cục thi hành án dân sự huyện DL quản lý.

Bị cáo Phan Văn T tự nguyện giao nộp 01 đoạn clip ghi lại nội dung diễn biến vụ việc. Hiện đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với chiếc cưa Kh mang vào nhà T, sau khi bị chém đứt tay Kh và H đã bỏ lại đường đi phía trước nhà của T, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị can Phan Văn T đã bồi thường cho Bùi Tuấn H số tiền 5.000.000 đồng, bồi thường cho Lương Văn Kh 100.000.000 đồng (gồm 80.000.000 đồng đưa cho mẹ và vợ của Kh, 20.000.000 đồng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện DL).

Ngày 10/5/2022, bị hại Bùi Quốc H yêu cầu bồi thường thêm 02 tháng tiền lương tương đương 18.000.000 đồng vì thương tích do Phan Văn T gây ra nên H phải nghỉ việc.

Ngày 13/5/2022, bị hại Lương Văn Kh có đơn yêu cầu bồi thường số tiền 755.100.000 đồng (bao gồm tiền viện phí, tiền xe, tiền ăn, tiền bồi thường tổn thất tinh thần, tiền thuê luật sư, tiền cấp dưỡng cho một đứa con khi đến 18 tuổi, tiền trợ cấp cho người bị hại).

Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 05/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện DL, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại bản án số 74/2022/HS-ST ngày 24/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện DL, tỉnh Lâm Đồng đã xử;

  1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1, điểm d khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt Phan Văn T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 31/3/2022.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Phan Văn T và bị hại anh Lương Văn Kh. Bị cáo Phan Văn T có trách nhiệm bồi thường cho anh Lương Văn Kh số tiền là 274.500.000 (Hai trăm bảy mươi bốn triệu năm trăm nghìn) đồng

Buộc bị cáo Phan Văn T phải bồi thường cho anh Lương Văn Kh số tiền 23.000.000 (Hai mươi ba triệu) đồng (trong đó có 4.000.000 (Bốn triệu) đồng tiền bị mất thu nhập; 4.000.000 (Bốn triệu) đồng tiền công người chăm sóc; 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe).

Bị cáo đã bồi thường 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng nên còn phải bồi thường số tiền 197.500.000 (Một trăm chín mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng. Anh Lương Văn Kh được quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện DL để nhận số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng theo biên lai thu tiền số 0002345 ngày 19/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện DL.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

  • * Ngày 30/8/2022 bị hại Lương Văn Kh kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo Phan Văn T
  • * Ngày 06/9/2022 bị cáo Phan Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Phan Văn T giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Lương Văn Kh giữ nguyên kháng cáo.

* Người bào chữa cho bị cáo, Luật sư H tranh luận: Bị hại Kh tại phiên tòa đã thừa nhận do có 1 phần lỗi của mình trong việc này. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trên cho bị cáo. Ngoài ra gia đình bị cáo còn khắc phục thêm cho bị hại số tiền 100 triệu đồng và nộp tại Chi cục THADS huyện DL. Xét đến hoàn cảnh, không gian dẫn đến sự việc thì vào buổi tối, 2 bị hại đến nhà bị cáo đòi tiền nợ, 2 bị hại đã liên tục xúc phạm bị cáo mặc dù số tiền nợ đó không phải của bị hại Kh. Bị cáo đã nói “có gì lên công an xã làm việc” nhưng 2 bị hại vẫn chửi bới, xúc phạm bị cáo và xúc phạm cha mẹ bị cáo. Dẫn đến tâm lý bị cáo lo sợ, chấn động. Cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức án 10 năm tù là quá nặng. Bởi lẽ, bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, hiện bố mẹ già không ai chăm sóc, đã khắc phục cho bị hại hơn 200 triệu. Đề nghị xem xét giảm 1 phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Thống nhất với bản án sơ thẩm về việc yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 297 triệu đồng. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại được 200 triệu đồng. Đề nghị xem xét cho bị cáo tình tiết mới này.

* Bị cáo không tham gia tranh luận

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, Luật sư Lê Cao T tranh luận: Số tiền bị hại yêu cầu bồi thường là 650.000.000đ. Bản án sơ thẩm cho rằng bị cáo và bị hại đã thỏa thuận việc bồi thường là không đúng. Việc ra bản án khác với diễn biến tại tòa là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gia đình bị hại đã gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan chuyên môn về vấn đề này. Sau khi xét xử sơ thẩm thì bị hại Kh tiếp tục đi chữa trị, số tiền phát sinh thêm hiện nay là 7.300.000đ. Về hình phạt: Giữ nguyên kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo, đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS cho bị cáo. Đề nghị chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ lời khai của bị cáo; lời khai của bị hại; kết luận giám định thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 27/01/2022, bị cáo Phan Văn T dùng dao tự chế là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Bùi Tuấn H với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 03%, gây thương tích cho bị hại Lương Văn Kh với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 65%, tổn thương do vật sắc nhọn gây nên. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1, điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn luật định nên được xem xét. Bị cáo không kêu oan mà xin giảm nhẹ hình phạt.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nhưng vẫn cố ý sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Kh với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%, và bị hại H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 10 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, hình phạt đưa ra đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung

Bị cáo đã tác động gia đình và tiếp tục bồi thường cho bị hại Lương Văn Kh số tiền 100.000.000₫ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện DL (BL471). Tuy nhiên, tình tiết này cũng đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình. Vì vậy, không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của bị hại Lương Văn Kh: Bị hại kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và tăng trách nhiệm dân sự cho bị hại.

Như đã phân tích ở mục [2], Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, tội danh và hình phạt đưa ra phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại điểm d khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét đối với kháng cáo của bị hại khi đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo

Bị hại Kh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chi phí điều trị là 200.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở là 74.500.000 đồng; bồi thường tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 50.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với các yêu cầu bồi thường khác như thu nhập bị mất trong 02 năm là 250.000.000 đồng; tiền công người chăm sóc là 100.000.000 đồng; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là 50.000.000 đồng; tiền cấp dưỡng nuôi hai con của bị hại với số tiền là 200.000.000 đồng thì thấy rằng:

  • - Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập, xác minh đối với thu nhập trung bình của người lao động tại địa phương là 250.000 đồng/ngày, bị hại điều trị 16 ngày nên chỉ chấp nhận tiền thu nhập bị mất của bị hại là 4.000.000 đồng và tiền công người chăm sóc 4.000.000₫ là có cơ sở.
  • - Bị hại Kh không xuất trình được chứng cứ về việc mua thuốc bổ, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho bị hại theo chỉ định của bác sỹ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy thực tế sức khỏe của bị hại bị suy giảm là có xảy ra, cần phải được bồi bổ về sức khỏe nên đã chấp nhận một phần yêu cầu và buộc bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng để bị hại mua thuốc bổ, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe là phù hợp.
  • - Bị cáo Kh bị thương tật 65% không thuộc trường hợp không còn khả năng lao động do bị bại liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên nên yêu cầu của bị hại Kh đòi tiền cấp dưỡng nuôi hai con là không có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa hôm nay, bị hại Kh không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu tăng bồi thường trách nhiệm dân sự. Do đó, không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Kh tổng số tiền 297.500.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường 200.000.000 đồng (trong đó 80.000.000đ gia đình bị cáo giao trực tiếp cho bị hại; 120.000.000₫ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện DL theo biên lai thu số 0002345 ngày 19/4/2022 và số 0002430 ngày 06/9/2022) nên cần buộc bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 97.500.000 đồng.

Từ những phân tích trên thấy rằng, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn T, bị hại Lương Văn Kh, giữ nguyên bản án sơ thẩm; xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 1, điểm d khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt Phan Văn T 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 31/3/2022.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Phan Văn T có trách nhiệm bồi thường cho anh Lương Văn Kh số tiền là 297.500.000 (Hai trăm chín mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng. Bị cáo đã bồi thường 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng. Buộc bị cáo bồi thường số tiền 97.500.000 (Chín mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng còn lại cho anh Lương Văn Kh.

Anh Lương Văn Kh được quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện DL để nhận số tiền 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu) đồng theo biên lai thu tiền số 0002345 ngày 19/4/2022 và số 0002430 ngày 06/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện DL.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền bồi thường nói trên cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại điều 357, khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (04);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND huyện DL (02);
  • - VKSND huyện DL (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện DL (01);
  • - Cơ quan THAHS CA huyện DL (01);
  • - Phòng PV 27 Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Bị hại (01);
  • - Người bào chữa (01);
  • - Hồ sơ THAHS (04);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Duy Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2022/HS-PT ngày 13/12/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 149/2022/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Van T "Co y gay thuong tich"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger