|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:148/2023/HS-PT |
|
|
Ngày: 28/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Yển.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Bằng và ông Vũ Thanh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu- Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 154/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Bùi Văn H, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2022/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Bị cáo không kháng cáo: Bùi Văn H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1979 tại: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn K, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; có vợ là Nguyễn Thị D, sinh năm 1985 và 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại có kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khu dân cư P, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích pháp của bị hại: Ông Chu Văn H1 và ông Nguyễn Văn V đều là Luật sư Công ty L3- Đoàn Luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số G, ngõ B đường N, phường T, quận C. TP Hà Nội. (Ông H1 có mặt, ông V vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ hợp liên quan:
- + Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khu dân cư P, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. (Có mặt)
1
- + Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1970; Địa chỉ: Khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. (Có mặt)
- + Anh Hoàng Văn L1, sinh năm 1974 và chị Bùi Thị T, sinh năm 1977; Đều có địa chỉ: Khu dân cư T, phường T, thành phố C, L2, tỉnh Hải Dương (Anh L1 vắng mặt, chị T có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Bùi Văn H có giấy phép lái xe ô tô hạng C, có giá trị đến ngày 13-10-2026 do sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 13-10-2021. H lái xe thuê cho anh Hoàng Văn L1, sinh năm 1964 địa chỉ tại T, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Sáng ngày 25-6-2022 H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Dongjong sơn màu vàng BKS 34C-098.23 (xe thuộc sở hữu của vợ chồng anh Hoàng Văn L1) chở đất từ phường T, thành phố C đến công ty G thuộc khu dân cư A, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày H điều khiển xe ô tô đi đến khu vực ngã tư thuộc khu dân cư Đ, phường A nhưng do thiếu quan sát và giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên khi chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1988 (địa chỉ: Khu dân cư P, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương) điều khiển xe mô tô BKS 34C1-210-82 nhãn hiệu Attila màu đỏ đi hướng từ khu dân cư Đại đến ngã tư đang chuyển hướng rẽ trái đi phường T, khi xe của chị D1 còn cách xe của H 10m, thì H mới rà phanh, đánh lái sang trái để tránh chị D1 nhưng đầu xe ô tô do H điều khiển vẫn va chạm với xe mô tô do chị D1 điều khiển. Sau khi va chạm phần đầu xe ô tô của H kéo lê xe mô tô và chị D1, đồng thời bánh trước trái của xe ô tô chạm vào gờ vỉa hè nên xe tiếp tục trôi đi một đoạn rồi đổ nghiêng sang bên phải. Đầu và bánh trước bên phải của xe ô tô đè vào xe mô tô và chị D1. Hậu quả chị D1 phải đi cấp cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện H2 từ ngày 25-6-2022 đến ngày 13-7-2022 và từ ngày 09-8-2022 đến ngày 23-8-2022. Xe mô to của chị D1 bị thiệt hại 3.740.000 đồng; xe ô tô bị hư hỏng 36.300.000 đồng.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 153/KLTTCT/BS ngày 04-5-2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh H đối với chị Nguyễn D1 thể hiện:
Chấn thương, vết thương gây dập nát dưới mấu chuyển đùi trái, gẫy mất đoạn xương đùi, đứt hoàn toàn bó mạch thần kinh đùi, đã phẫu thuật xử lý. Hiện cụt 1/3 trên đùi trái, sẹo mỏm cụt tốt. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 67%.
Chấn thương hàm mặt gây gãy xoang hàm trên bên trái. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 07%.
Chấn thương hàm mặt gây gãy xương ổ răng R11,R12, hiện khuyết răng số 1 hàm trên cả hai bên. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích
2
gây ra là 04%.
Chấn thương gây gãy hở 2 xương cẳng tay trái, đã phẫu thuật xử lý hiện ổn định để lại 2 sẹo mổ kích thước lớn và trung bình. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 15%.
04 sẹo vết thương phần mềm vùng cằm lệch trái, nêm mạc môi dưới bên phải mu bàn tay trái, đùi kích thước lớn và nhỏ. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 09%.
Kết luận: Xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị D1 tại thời điểm giám định là 76%.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 210/KLTTCT ngày 09-6-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh H thể hiện:
Chấn thương sọ não gây chảy máu màng mềm, vỡ xương thái dương phải, được điều trị nội khoa. Hiện ổn định không có di chứng thần kinh. Trên phim chụp cắt lớp sọ não vi tính không còn hình ảnh tổn thương nội sọ, vỡ xương thái dương phải dài 15mm, điện não đồ bình thường. Được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể gây chảy máu màng mềm 08%, vỡ xương thái dương 08%.
Sẹo vết thương phần mềm vùng đầu ở đỉnh chẩm phải kích thước lớn được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
Xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị D1 tại thời điểm giám định là 79%.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã thu giữ và trả lại xe ô tô BKS 34C-098.23 cho anh Hoàng Văn L1 và xe mô tô BKS 34C1-210.82 cho anh Nguyễn Văn N.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị D1 yêu cầu bị cáo Bùi Văn H phải bồi thường 847.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường 47.000.000 đồng. Bị cáo, bị hại đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh đã căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586; 590 của Bộ luật dân sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Văn H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị D1 số tiền là 279.344.645 đồng; đối trừ số tiền 47.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền là 232.344.645; Anh Hoàng
3
Văn L1 và chị Bùi Thị T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra việc giải quyết. Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/8/2023 bị hại Nguyễn Thị D1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm vì mức hình phạt và mức bồi thường thiệt hại cho bị hại chưa thỏa đáng với hành vi của bị cáo và những thiệt hại mà bị hại phải gánh chịu.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo xác định không kháng cáo bản án. Bị cáo là lái xe thuê cho anh L1, chị T. Bị cáo không được giao xe, công việc do anh L1 điều hành. Giữa bị cáo và anh L1 không có hợp đồng lái xe. Tuy nhiên, sau khi xảy ra tai nạn, vì bị cáo là lái xe nên anh L1 và bị cáo thống nhất bị cáo có trách nhiệm bồi thường toàn bộ cho bị hại. Gia đình bị cáo rất khó khăn nhưng bị cáo đã tự nguyện bồi thường 47 triệu đồng cho bị hại. Đề nghị HĐXX xem xét kháng cáo của bị hại theo quy định của pháp luật.
Bị hại chị Nguyễn Thị D1 đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận kháng cáo của bị hại. Đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo; tăng mức bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Bà P, anh N nhất trí với ý kiến của chị D1.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Chu Văn H1 trình bày: Do mức hình phạt tại bản án sơ thẩm là nhẹ, bị cáo không có ý thức bồi thường thiệt hại cho bị hại nên đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo. Chị D1 bị đa chấn thương, ảnh hưởng rất nặng nề đến sức khỏe và tinh thần, bị hại bị mang cố tật, ảnh hưởng đến thẩm mĩ. Đề nghị HĐXX tăng mức bồi thường cho bị hại và buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chủ xe phải liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Chị Bùi Thị T trình bày: Xe ô tô do bị cáo H điều khiển gây tai nạn, dẫn đến bị hại bị thương tích là xe thuộc sở hữu của chị và anh Hoàng Văn L1. Khi tai nạn xảy ra, chị đã trực tiếp ra tham gia đưa bị hại đi cấp cứu tại viện. Mọi việc điều xe, hợp đồng với lái xe do anh L1 làm. Nay chị và anh L1 đã ly hôn tháng 10/2023 nên về trách nhiệm dân sự đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh tham gia phiên tòa sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án xác định cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị hại: Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xác định bị hại có một phần lỗi là đúng. Tại cấp phúc thẩm, bị hại xuất phiếu thu tiền kiêm bảng kê chi phí điều trị nắn chỉnh răng số tiền 60 triệu đồng. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại; giữ nguyên mức hình phạt của bị cáo; Sửa án sơ thẩm phần bồi thường dân sự; Chấp nhận thêm chi phí điều trị 60 triệu do bị hại xuất trình; Buộc anh Hoàng Văn L1, chị Bùi Thị T liên đới bồi thường cho bị hại; Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm Hình sự.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của bị hại trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của bị hại:
[2.1]. Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại quá trình điều tra, xét xử tại cấp sơ thẩm; cơ bản phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng; phù hợp với Kết luận giám định pháp y về thương tích và vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 15 phút ngày 25-6-2022 tại ngã tư khu dân cư Đ, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Bùi Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát BKS 34C-098.23 theo hướng từ T đi khu dân cư A, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên đã xảy ra va chạm với chị Nguyễn Thị D1 điều khiển xe mô tô BKS 34C1-210.82 đang di chuyển theo hướng từ khu dân cư Đại rẽ trái đi phường T. Hậu quả chị D1 bị tổn thương sức khỏe 79%. Xe mô tô bị hư hỏng 3.740.000 đồng. Do vậy, tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo, bị hại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị về tội danh.
[2.2]. Đối với kháng cáo bị hại về mức hình phạt của bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; tự nguyện bồi thường cho bị hại một phần thiệt hại; Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét nguyên nhân dẫn đến tai nạn ngày 25/6/2022, lỗi chính thuộc bị cáo nhưng trong vụ án này bị hại có một phần lỗi: chị Nguyễn Thị D1 khi chuyển hướng thiếu quan sát nên dẫn đến tai nạn giao thông. Theo Điều 9, Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ; khi muốn chuyển hướng người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo rẽ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ được chuyển hướng khi không gây trở ngại, hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác. Do vậy bị hại cũng bị xử phạt hành chính. Tại bản án sơ thẩm đã áp dụng hình phạt 12 tháng tù giam là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại đề nghị tăng hình phạt của bị cáo, cần giữ nguyên hình phạt của bị cáo H tại bản án sơ thẩm.
[2.3]. Đối với kháng cáo bị hại đề nghị tăng bồi thường thiệt hại thấy rằng:
5
[2.3.1]. Về trách nhiệm bồi thường: Theo quy định tại Điều 601 Bộ luật dân sự xác định phương tiện giao thông vận tải cơ giới là nguồn nguy hiểm cao độ. Ô tô do bị cáo H điều khiển là tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng anh Hoàng Văn L1 và chị Bùi Thị T. Giữa anh L1, chị T và bị cáo H không có hợp đồng lao động, hay biên bản giao xe. Theo xác minh tại hồ sơ, lời khai của anh L1, bị cáo H đều xác định: Bị cáo H được anh L1 thuê lái xe, hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng. Mọi việc điều xe và sắp xếp hàng hóa là do anh L1 giao cho bị cáo H hàng ngày. Như vậy, xác định vợ chồng anh L1 là chủ sở hữu hợp pháp, chưa giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho bị cáo H. Do đó theo quy định tại khoản 1 Điều 601 BLDS “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây cả khi không có lỗi...”. Theo quy định trên thì anh L1, chị T có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại nhưng trong vụ án này, bị cáo H đã tự nguyện bồi thường 47.000.000đ nên cần buộc vợ chồng anh L1 và bị cáo H có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho bị hại. Tuy nhiên, tại bản án sơ thẩm căn cứ vào biên bản làm việc tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C giữa bị cáo H và anh L1 thỏa thuận bị cáo H sẽ có trách nhiệm bồi thường toàn bộ cho bị hại nên xác định trách nhiệm bồi thường chỉ thuộc bị cáo H là không đúng nghĩa vụ chịu bồi thường, ảnh hưởng quyền và phạm vi yêu cầu bồi thường của bị hại. Do vậy cần sửa bản án sơ thẩm về nội dung này.
[2.3.2]. Về mức bồi thường: Tại cấp phúc thẩm bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu bồi thường 847.000.000 đồng. Đối trừ với số tiền bị cáo đã bồi thường thì còn phải bồi thường cho chị 800.000.000 đồng. Bị cáo và người liên quan không đồng ý bồi thường và đề nghị xem xét việc bồi thường theo quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bị hại thấy rằng: Tại bản án sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận các khoản bồi thường thương tích theo quy định pháp luật bao gồm: Chi phí điều trị; tiền xe đi lại, bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại; tiền mất thu nhập của bị hại và tiền mất thu nhập của người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị, tổn thất tinh thần. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các khoản bồi thường và đối trừ phần lỗi của bị hại 20% là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét tài liệu chứng cứ do bị hại xuất trình tại cấp phúc thẩm và thực tế chi phí điều trị, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại và đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị hại điều chỉnh một số khoản bồi thường sau:
- - Về chi phí điều trị: Tổng chi phí điều trị tại bệnh viện và tiền thuốc theo các tài liệu chứng cứ cấp sơ thẩm xác định là 78.001.525 đồng là có căn cứ nên giữ nguyên.
- - Đối với yêu cầu chi phí về phương tiện đi lại khám chữa bệnh: Xem xét yêu cầu bị hại và giá cả thực tế thị trường cần chấp nhận: Xe cấp cứu 4 lần = 7.200.000 đồng; Taxi đi lại khám bệnh tại bệnh viện H2 + Bệnh viện R: 20.000.000
6
đồng; Tổng 27.200.000đ.
- - Chi phí bồi dưỡng sức khoẻ chị D1 yêu cầu bồi thường 90.000.000 đ. Tuy nhiên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị Quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06-9-2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao chấp nhận số tiền bồi dưỡng sức khỏe của chị D1 trong những ngày điều trị tại Bệnh viện cho đến ngày tái khám tức là tính từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2022; mức tính căn cứ 1 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám chữa bệnh 180.000 đồng/ngày, nên 1 tháng là 5.400.000đ. Chấp nhận số tiền bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại tương đương 4 tháng là 21.600.000đ.
- - Các chi phí bồi thường xe lăn, nạng đi, chườm nóng lạnh cụ thể: nạng đi: 2.000.000 đồng, chườm nóng lạnh 1.000.000 đồng. Chị D1 không đưa ra được tài liệu về chi phí mua nạng, chườm nóng lạnh nên chỉ có thể chấp nhận chi phí theo giá thị trường cụ thể nạng đi là 1.000.000 đồng; chườm nóng lạnh là 1.000.000 đồng là phù hợp.
- - Đối với thu nhập bị mất của người chăm sóc bị hại là bà Nguyễn Thị P là 96 ngày = 18.240.000 đồng và anh Nguyễn Văn N là 6 tháng 3 ngày = 43.198.629 đồng như tại bản án sơ thẩm là phù hợp.
- - Đối với thu nhập của chị D1 bị mất từ ngày 25-6-2022 đến 31-7-2023 mỗi tháng là 20.000.000 đồng. Chị D1 khai làm kinh doanh bán hàng nước thu nhập trung bình là 20.000.000 đồng/tháng nhưng không có căn cứ chứng minh. Do vậy căn cứ vào mức thu nhập trung bình đầu người tại địa phương năm 2022 là 85.000.000 đồng/năm = 7.083.333 đồng/tháng. Tổng số ngày công chị D1 bị mất là 13 tháng 6 ngày = 93.480.652 đồng như tại bản án sơ thẩm là phù hợp.
- - Tổn thất tinh thần chị D1 yêu cầu mức 50 lần tháng lương cơ sở = 90.000.000 đồng. Xét yêu cầu của chị D1 thì thấy chị D1 tổn hại sức khoẻ 79% và để lại cố tật, ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên cần xem xét chấp nhận mức tổn thất tinh thần cho chị là 47 tháng lương cơ sở = 84.600.000 đồng.
Đối với thiệt hại xe mô tô bị hư hỏng: 3.740.000 đồng có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Đối với chi phí làm răng hàm tại cấp phúc thẩm bị hại xuất trình hóa đơn 60.000.000đ. Đây là chi phí thực tế, hợp lý nên có cơ sở chấp nhận chi phí này.
Như vậy tổng số thiệt hại phải bồi thường là 432.060.806đ; đối trừ lỗi của người bị hại là 20% tương ứng với số tiền là: 86.412.161đ. Buộc vợ chồng anh L1, chị T, bị cáo H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị D1 là 345.648.645đ. Trong đó xác định nghĩa vụ bồi thường của bị cáo H là 47.000.000đ được đối trừ với số tiền 47.000.000đ bị cáo H đã bồi thường. Số tiền còn lại buộc anh L1, chị T phải liên
7
đới bồi thường cho chị D1 số tiền là 298.649.000đ (làm tròn). Chia phần anh L1 và chị T mỗi người có trách nhiệm bồi thường 149.324.500đ.
Đối với các chi phí lắp chân giả: 300.000.000 đồng và những chi phí khác chị D1 trình bày là những chi phí chưa phát sinh. Khi có những chi phí thực tế này, chị D1 có quyền khởi kiện giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí: Buộc anh Hoàng Văn L1 và chị Bùi Thị T mỗi người phải chịu 7.466.000đ (làm tròn) án phí dân sự về bồi thường. Bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị D1;
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh về phần trách nhiệm dân sự.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; Điều 38 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 28/11/2023)
HĐXX quyết định bắt và tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 590; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 02/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Buộc anh Hoàng Văn L1 và chị Bùi Thị T và bị cáo Bùi Văn H có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị D1 số tiền 345.648.645đ (bao gồm Chi phí điều trị, tiền xe đi lại, tiền mất thu nhập của bị hại và của người chăm sóc bị hại, tổn thất tinh thần và tiền bồi dưỡng sức khỏe bị hại). Trong đó xác định nghĩa vụ bồi thường của bị cáo H là 47.000.000đ được đối trừ với số tiền 47.000.000đ bị cáo H đã bồi thường xong. Số tiền còn lại buộc anh L1, chị T phải liên đới bồi thường cho chị D1 số tiền là 298.649.000đ (làm tròn). Chia phần anh L1 và chị T mỗi người có trách nhiệm bồi thường 149.324.500đ (Một trăm bốn mươi chín triệu, ba trăm hai mươi tư nghìn, năm trăm đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành khoản tiền bồi thường nêu trên mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
8
- Về án phí Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc anh Hoàng Văn L1 và chị Bùi Thị T mỗi người phải chịu 7.466.000đ (làm tròn) án phí dân sự về bồi thường. Bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 28/11/2023.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Yển |
9
Bản án số 148/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 148/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn H có giấy phép lái xe ô tô hạng C, có giá trị đến ngày 13-10-2026 do sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 13-10-2021. H lái xe thuê cho anh Hoàng Văn L1, sinh năm 1964 địa chỉ tại T, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Sáng ngày 25-6-2022 H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Dongjong sơn màu vàng BKS 34C-098.23 (xe thuộc sở hữu của vợ chồng anh Hoàng Văn L1) chở đất từ phường T, thành phố C đến công ty G thuộc khu dân cư A, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày H điều khiển xe ô tô đi đến khu vực ngã tư thuộc khu dân cư Đ, phường A nhưng do thiếu quan sát và giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên khi chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1988 (địa chỉ: Khu dân cư P, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương) điều khiển xe mô tô BKS 34C1-210-82 nhãn hiệu Attila màu đỏ đi hướng từ khu dân cư Đại đến ngã tư đang chuyển hướng rẽ trái đi phường T, khi xe của chị D1 còn cách xe của H 10m, thì H mới rà phanh, đánh lái sang trái để tránh chị D1 nhưng đầu xe ô tô do H điều khiển vẫn va chạm với xe mô tô do chị D1 điều khiển. Sau khi va chạm phần đầu xe ô tô của H kéo lê xe mô tô và chị D1, đồng thời bánh trước trái của xe ô tô chạm vào gờ vỉa hè nên xe tiếp tục trôi đi một đoạn rồi đổ nghiêng sang bên phải. Đầu và bánh trước bên phải của xe ô tô đè vào xe mô tô và chị D1. Hậu quả chị D1 phải đi cấp cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện H2 từ ngày 25-6-2022 đến ngày 13-7-2022 và từ ngày 09-8-2022 đến ngày 23-8-2022. Xe mô to của chị D1 bị thiệt hại 3.740.000 đồng; xe ô tô bị hư hỏng 36.300.000 đồng.
