TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 148/2024/DS-ST Ngày: 28/8/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Hồng
Bà Nguyễn Thị Bé Em
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 209/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 198/2024/QÐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (viết tắt S1);
Địa chỉ trụ sở chính: 77 phố T, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H - Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Sỹ Minh T - Chuyên viên Bán nợ và Tài sản đảm bảo nợ Ngân hàng TMCP S; theo văn bản uỷ quyền ngày 26/8/2024. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Võ Thị Bé C, sinh năm 1975; (vắng mặt)
Cư trú: 567B ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/5/2024, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S cũng như ông Lê Sỹ Minh T là người đại diện theo uỷ quyền của ngân hàng trình bày:
Bà Võ Thị Bé C có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP S (sau đây viết tắt là ngân hàng C) Chi nhánh T2, cụ thể ký kết hợp đồng tín dụng số 011/2022/HĐTDTDH-CN/SHB.131401 ngày 23/3/2022 cùng các phụ lục kèm theo và Khế ước nhận nợ số 01-011/2022/HĐTDTDH-CN/SHB.131401 ngày 24/3/2022 với nội dung như sau:
- - Số tiền vay: 1.700.000.000 đồng.
- - Thời hạn vay: 239 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay đầu tiên.
- - Mục đích sử dụng vốn vay: bù đắp tiền mua bất động sản.
- - Lãi suất vay: 11,5%/năm áp dụng 12 tháng, kể từ ngày 24/3/2022 đến hết ngày 23/3/2023. Lãi suất cho vay được điều chỉnh lần đầu tiên là ngày 24/3/2022 các lần tiếp theo được điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời điểm điều chỉnh gần nhất, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh tại ngày 24/3/2022 và các lần tiếp theo bằng lãi suất cơ sở VND tương ứng với kỳ hạn vay 239 tháng có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng với biên độ cho vay 3,6%/năm.
- - Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
- + Lịch trả nợ: trả gốc hằng tháng vào ngày 15 số tiền trả nợ mỗi kỳ như nhau:
- + Từ kỳ 1 đến kỳ 238: 7.120.000 đồng (kỳ trả lãi đầu tiên là ngày 15/4/2022).
- + Kỳ thứ 239 (cuối kỳ): 5.440.000 đồng.
- - Lịch trả nợ lãi: trả lãi hằng tháng vào ngày 15.
Để đảm bảo cho khoản nợ vay, bà Võ Thị Bé C đã ký với ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/2022/HĐTC-CN/SHB.131401 ngày 23/3/2022, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T1. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất 97 tờ bản đồ số 39 diện tích 1162,1m² tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre do bà Võ Thị Bé C đứng tên quyền sử dụng đất. Trong quá trình vay vốn của hợp đồng tín dụng nêu trên, bà C đã vi phạm hợp đồng đã ký kết. Đến hạn thanh toán (cụ thể từ tháng 5/2023 đến nay), ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng bà C vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, do đó ngân hàng tiến hành khởi kiện bà C tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre.
Tại phiên toà, ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bà C có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 28/8/2024 là 1.954.134.382 đồng, trong đó tiền gốc 1.614.560.000 đồng, lãi trong hạn 318.779.855 đồng, lãi quá hạn và chậm trả là 20.794.527 đồng; đồng thời đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi phạt theo hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 29/8/2024 cho đến khi bà C thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay.
Trường hợp bà C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất 97 tờ bản đồ số 39 diện tích 1162,1m² tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo hợp đồng thế chấp đã ký kết thu hồi nợ cho ngân hàng.
Bị đơn bà Võ Thị Bé C:
Quá trình giải quyết vụ án, bà C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ, hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà và các văn bản tố tụng khác nhưng bà C vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 90, 91, 93, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc bà C có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng; kể từ ngày 29/8/2024, bà C có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ; trường hợp bà C không trả được nợ cho ngân hàng thì tài sản bảo đảm sẽ được xử lý để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 23/3/2022. Án phí và chi phí tố tụng thực hiện theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 011/2022/HĐTDTDH-CN/SHB.131401 ngày 23/3/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S với bà Võ Thị Bé C thể hiện nội dung ngân hàng có cho bà C vay tiền. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà C không thanh toán đủ tiền gốc và lãi cho ngân hàng theo thoả thuận giữa đôi bên nên nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Chi trả tiền cho ngân hàng theo các văn bản tín dụng đã ký kết. Đối chiếu Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “tranh chấp hợp đồng tín dụng".
Về thẩm quyền giải quyết: Bà C vay tiền với mục đích bổ sung vốn mua bất động sản, ngoài ra không còn mục đích nào khác (BL03). Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ khoản 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác cho cơ quan đại diện N ở nước ngoài, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân cấp huyện. Bên cạnh đó, theo hợp đồng tín dụng thể hiện bên vay bà Võ Thị Bé C có nơi cư trú tại E ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự: Bà C đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà C là có căn cứ.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng:
[2.1] Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 011/2022/HĐTDTDH-CN/SHB.131401 ngày 23/3/2022 (BL07 đến BL13) được ký kết giữa giữa ngân hàng với bà C đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa đôi bên. Tại mục bên vay, bà C ký và ghi rõ họ tên vào hợp đồng. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho bà C số tiền vay 1.700.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 01-011/2022/HĐTDTDH-CN/SHB.131401 ngày 24/3/2022 (BL25-26). Quá trình thực hiện hợp đồng bà C đã ngưng trả gốc và lãi cho ngân hàng từ tháng 5/2023 đến nay. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành mở phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ trong đó có công khai hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ nêu trên nhưng đến nay bà C đều vắng mặt, không có ý kiến phản đối. Điều 95.1 Luật tổ chức tín dụng quy định về chấm dứt cấp tín dụng như sau: "Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng". Đồng thời, tại điều khoản 9.1.6 của hợp đồng tín dụng ngày 23/3/2022 (BL11), các bên thỏa thuận ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn khi bên vay vi phạm hoặc không thực hiện đầy đủ và đúng hạn các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy ngân hàng khởi kiện buộc bà C có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền gốc tính đến ngày 28/8/2024 là 1.614.560.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2] Về tiền lãi: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã công bố các tài liệu, chứng cứ liên quan đến phần tiền lãi do ngân hàng cung cấp, đến nay bà C không có ý kiến gì về số tiền lãi chưa thanh toán. Căn cứ theo thỏa thuận giữa đôi bên trong hợp đồng tín dụng ngày 23/3/2022, đối chiếu Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy ngân hàng yêu cầu bà Chi trả tiền lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 339.574.382 đồng (bao gồm tiền lãi trong hạn 318.779.855 đồng, tiền lãi quá hạn và chậm trả 20.794.527 đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận. Kể từ ngày 29/8/2024, bà C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ cho ngân hàng.
[2.3] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/2022/HĐTC-CN/SHB.131401 ngày 23/3/2022: Nhận thấy, để đảm bảo cho khoản vay 1.700.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng ngày 23/3/2022, ngân hàng đã ký kết với bà C hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 23/3/2022. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 97 tờ bản đồ số 39 diện tích 1162,1m² tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Võ Thị Bé C đứng tên quyền sử dụng đất ngày 21/6/2021. Hội đồng xét xử xét thấy: hợp đồng thế chấp nêu trên được ký kết giữa ngân hàng, bà C và được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T1; sau đó, bà C đã có đơn yêu cầu đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B ngày 23/3/2022 (BL 21, 22). Căn cứ khoản 1 Điều 179 và Điều 188 Luật Đất đai năm 2013, hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực pháp luật. Tại Điều 5.1.2 của hợp đồng thế chấp các bên thỏa thuận ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi một hoặc toàn bộ các khoản nợ phải trả, thỏa thuận này phù hợp với Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 95.2 Luật các tổ chức tín dụng. Từ các phân tích trên, xét thấy ngân hàng khởi kiện yêu cầu trường hợp bà C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất nêu trên là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Ngân hàng, bà C không còn yêu cầu nào khác nên không xem xét.
[4] Chi phí tố tụng với số tiền 122.000 đồng, ngân hàng đã tạm ứng số tiền nêu trên. Do yêu cầu khởi kiện của ngân hàng được chấp nhận nên bà C có nghĩa vụ trả lại cho ngân hàng số tiền này.
[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do yêu cầu khởi kiện của ngân hàng được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 70.624.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Điều 179 và Điều 188 Luật Đất đai năm 2013;
- - Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Võ Thị Bé C về việc "tranh chấp hợp đồng tín dụng", cụ thể:
1.1. Buộc bà Võ Thị Bé C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 28/8/2024 là 1.954.134.382 (một tỷ chín trăm năm mươi bốn triệu một trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm tám mươi hai) đồng, trong đó tiền gốc 1.614.560.000 đồng, tiền lãi trong hạn 318.779.855 đồng, tiền lãi quá hạn và chậm trả 20.794.527 đồng, theo hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 011/2022/HĐTDTDH-CN/SHB.131401 ngày 23/3/2022 và Khế ước nhận nợ số 01-011/2022/HĐTDTDH-CN/SHB.131401 ngày 24/3/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S với bà Võ Thị Bé C.
Kể từ ngày 29/8/2024, bà Võ Thị Bé C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các văn bản tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S thì lãi suất mà bà Võ Thị Bé C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP S.
1.2. Trường hợp bà Võ Thị Bé C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 011/2022/HĐTC-CN/SHB.131401 ngày 23/3/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S với bà Võ Thị Bé C, cụ thể như sau:
Quyền sử dụng đất diện tích 1162,1m² đất nuôi trồng thuỷ sản thuộc thửa đất 97 tờ bản đồ số 39 toạ lạc tại xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Giấy chứng nhận phát hành DB 098613, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CS11933 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 21/6/2021 cho bà Võ Thị Bé C.
2. Chi phí tố tụng: Bà Võ Thị Bé C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 122.000 (một trăm hai mươi hai nghìn) đồng.
3. Về án phí: Bà Võ Thị Bé C có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 70.624.000 (bảy mươi triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn) đồng.
Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 33.944.300 (ba mươi ba triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn ba trăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002617 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - CCTHADS thành phố Bến Tre (1b); - Các đương sự (2b); - Lưu hồ sơ, VP (3b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 148/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 148/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
