Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:148/2024/HS - ST

Ngày: 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy

Ông Nguyễn Thanh Hà

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bùi Hữu T; sinh năm: 1979; tại: Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Hữu C và bà Hoàng Thị T1; có vợ là Nguyễn Thị C1, sinh năm 1982, có 02 con sinh năm 2004 và 2015; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: ngày 31/12/2023 bị Công an thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Văn V, sinh năm: 1974, tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: TDP B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T2 (đã chết) và bà Trịnh Thị K; có vợ là Vũ Thị D, sinh năm 1980, có 02 con sinh năm 1999 và 2003; tiền án; tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đinh Song H, sinh năm 1985. Địa chỉ: TDP B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Trần Đ, sinh năm 1972. Địa chỉ: TDP B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982. Địa chỉ: thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1990. Địa chỉ: thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1981. Địa chỉ: TDP T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Trường S, sinh năm 1978. Địa chỉ: B thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Bà Trịnh Thị P, sinh năm 1985. Địa chỉ: lô A, KQH M, phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua pháo về để sử dụng và bán lại cho người khác sử dụng trong dịp tết nguyên đán 2024 nên vào khoảng tháng 09/2023, Bùi Hữu T có nhờ Hoàng Văn V là hàng xóm tìm và đặt mua giúp 01 thùng pháo nổ. Khi T nhờ V đặt mua pháo giúp thì T không nói mục đích mua pháo nổ cho V biết. Sau đó, V lên mạng xã hội facebook và tìm được một trang bán pháo (Việt không nhớ trang bán). Qua trao đổi với người bán pháo thì V được biết giá một hộp pháo 49 viên là 750.000đồng/hộp, một thùng có 18 hộp pháo. Ngày hôm sau, V qua nhà T và nói đã tìm được chỗ mua pháo trên mạng, 01 thùng pháo sẽ có 18 hộp pháo nổ loại 49 viên, giá mỗi hộp là 750.000đồng và bên người bán pháo nói còn 05 hộp pháo lẻ nữa có lấy luôn không để V đặt thì T đồng ý mua 23 hộp pháo nổ. V liên hệ lại với người bán pháo để đặt mua pháo và yêu cầu giao tại nhà cho V. Khoảng 04 ngày sau, một người shipper liên hệ với V để giao hàng; V biết là giao pháo nên đã dẫn người này đi xe máy chở theo 01 thùng carton chứa 18 hộp pháo nổ và 01 bọc áo mưa chứa 05 hộp pháo nổ đến nhà T để giao pháo. Khi T kiểm tra thấy bên trong thùng carton có 18 hộp pháo nổ loại 49 viên/01 hộp và bên trong áo mưa có 05 hộp pháo nổ loại 49 viên thì T đã trả cho người shipper số tiền 17.250.000đồng. Khi người shipper ra về thì V nói với T để lại cho V 05 hộp pháo nổ mấy bữa nữa có tiền sẽ lấy. Sau đó, T mang toàn bộ 23 hộp pháo nổ đã mua cất vào trong nhà kho. Đến khoảng 19 giờ tối cùng ngày, T mang 05 hộp pháo trong số 23 hộp pháo vừa mua sang nhà cho V. Khoảng 01 tuần sau, V chuyển số tiền 3.750.000 đồng vào tài khoản 64610000288210 của T mở tại ngân hàng B để trả tiền mua pháo. Sau đó, T tiếp tục bán số pháo còn lại cho một số anh em và hàng xóm quen biết.

Cụ thể, T đã hai lần bán cho Trần Đ 11 hộp pháo nổ; bán cho Nguyễn Thị H1 01 hộp pháo nổ; bán cho Nguyễn Văn C2 01 hộp pháo nổ. Toàn bộ số pháo trên T đều bán giá 750.000đồng/hộp và đã lấy đủ số tiền bán pháo bằng tiền mặt. Còn lại 05 hộp pháo nổ loại 49 viên T cất giấu ở trong nhà kho. Vào tháng 11/2023, T mang 03 hộp pháo trong số 05 hộp pháo đang cất giấu ra sau vườn nhà để đốt, 02 hộp pháo còn lại T cất giấu 01 hộp ở dưới nhà kho và 01 hộp ở trong tủ đầu giường trong phòng ngủ của T. Ngoài ra, vào ngày 10/12/2023, T lên trên mạng facebook tìm các trang bán pháo nổ và đặt mua thêm 01 bịch pháo bi gồm 100 viên với giá 1.000.000đồng. Đến ngày 12/12/2023, bên giao hàng gọi điện thoại cho T và được T hướng dẫn tới nhà T giao hàng. Khi nhận hàng, T mang vào kiểm tra thấy đúng là số pháo bị đã đặt mua nên đã thanh toán tiền mặt cho người giao hàng. T mang bịch pháo bị trên vào cất ở trong kho. Đến tối ngày 12/12/2023, T mang 01 viên pháo bị trong số 100 viên pháo bi đã mua ra đường đốt thử, sau đó T lấy 50 viên pháo bị trong số pháo bị đã mua đem bán cho Đinh Song H với giá 500.000đồng. Số pháo bị còn lại, T cất giấu trong tủ sắt ở trong nhà kho.

Hoàng Văn V, sau khi mua 05 hộp pháo của T thì V mang pháo cất giấu trong tủ đồ trong phòng ngủ của mình. Đến khoảng tháng 11/2023, V tiếp tục sử dụng mạng facebook tìm đặt và mua 03 hộp pháo loại 49 viên với giá 900.000 đồng/hộp và yêu cầu gởi đến địa chỉ nhà mình. Khoảng bảy ngày sau thì có người gọi V ra trước cửa nhà để nhận pháo, sau khi kiểm tra thấy đủ số pháo trên, V đã trả 2.700.000đồng tiền mặt cho người này. Sau đó, V mang 03 hộp pháo vào phòng ngủ cất giấu cùng 05 hộp pháo đã lấy từ T cất giấu trước đó.

Đến ngày 22/12/2023, khi bị lực lượng Công an thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng bắt quả tang về hành vi đánh bạc, quá trình làm việc Bùi Hữu T cũng đã tự nguyện khai nhận về hành vi tàng trữ và mua bán pháo của mình. Qua đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Bùi Hữu THoàng Văn V. Quá trình khám xét, phát hiện và thu giữ tại nhà T 02 hộp pháo nổ loại 49 viên và 49 viên pháo bi. Phát hiện và thu giữ tại nhà V 08 hộp pháo nổ loại 49 viên.

Sau khi biết việc T bị phát hiện về hành vi mua bán pháo nổ, các đối tượng mua pháo của T đã đến cơ quan Công an để giao nộp lại số pháo đã mua, cụ thể: Nguyễn Văn C2 giao nộp 01 hộp pháo nổ loại 49 viên; Nguyễn Thị H1 giao nộp 01 hộp pháo nổ loại 49 viên; Đinh Song H giao nộp 50 viên pháo nổ loại pháo bi; Trần Đ giao nộp 02 hộp pháo nổ loại 49 viên.

Tại cơ quan Công an, ông Đ khai đã mua pháo của T 02 lần với tổng 11 hộp pháo nổ loại 49 viên với tổng số tiền 8.250.000 đồng. Trong đó, lần một Đ mua của T 07 hộp về sử dụng, tuy nhiên sau đó Đại để lại cho Nguyễn Văn G 04 hộp và Nguyễn Trường S 03 hộp với giá 750.000 đồng/ hộp; G đã sử dụng 02 hộp pháo và giao nộp cho cơ quan Công an 02 hộp pháo còn S đã sử dụng hết số pháo trên. Lần hai, Đ mua của T 04 hộp pháo nổ về sử dụng nhưng có cho Trịnh Thị P 02 hộp pháo, còn lại 02 hộp Đại để sử dụng vào dịp tết. Tuy nhiên, P đã làm mất 02 hộp pháo trên, còn lại Đ đã giao nộp 02 hộp cho cơ quan Công an.

Vật chứng và tài sản thu giữ gồm:

Thu của Bùi Hữu T: 49 viên nhựa hình cầu đều có gắn dây cháy chậm nghi là pháo nổ; 01 hộp hình lập phương có kích thước 17x17x10cm bên trên có dòng chữ KS4-4911N; 01hộp hình lập phương có kích thước 17x17x10cm bên trên có chữ KS4-49A nghi là pháo nổ được niêm phong trong một thùng giấy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung S10 Lite màu xanh đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2730 classic màu đỏ đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thế Đ1, Lê Văn H2, Bùi Hữu T.

Thu của Hoàng Văn V: 08 hộp có kích thước 17x17x10cm có nhiều màu sắc nghi là pháo nổ, trong đó 03 hộp có ký hiệu KS4-4911N, 03 hộp có ký hiệu KS4-49A, 02 hộp có ký hiệu KS4-49B; được niêm phong trong thùng giấy có kích thước 54x31x22cm; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7plus màu đen đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Lê Anh T3, Hoàng Văn V.

Thu của Nguyễn Văn G 02 hộp giấy hình lập phương có kích thước 17x17x10cm, bên trên có chữ KS4-4911 nghi là pháo nổ được niêm phong.

Thu của Trần Đ 01 hộp hình khối vuông có kích thước 17x17x10cm bên ngoài có giấy nhiều màu sắc và có chữ KS4-4911N nghi là pháo nổ và 01 hình khối vuông có kích thước 17x17x10cm gồm 49 ống tròn nghi là pháo nổ được niêm phong.

Thu của Nguyễn Thị P1 01 hộp khối bằng giấy nhiều màu sắc, có kích thước 17x17x10cm có chữ nước ngoài và ký tự KS4-4911N được niêm phong.

Thu của Đinh Song H 50 quả hình tròn có các màu xanh lá cây, xanh da trời, đỏ có dây dẫn ngoài màu xanh dài khoảng 03cm, nghi là pháo nổ được niêm phong

T4 của Nguyễn Văn C2 01 hộp giấy hình khối nhiều màu sắc có kích thước 17x17x10cm có chữ nước ngoài và ký tự KS4-4911N được niêm phong.

Tại bản kết luận giám định số 1692/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:

784 viên hình trụ tròn đường kính 2,3cm, cao 10cm chứa trong 16 khối hình hộp chữ nhật trong các mẫu A2 đến A7 gửi giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 25,68kg.

99 viên nhựa hình cầu, mỗi viên đường kính 2,7cm có sợi dây màu xanh dẫn bên trong thân ra chứa trong các mẫu A1,A6 gửi giám định là pháo nổ, khối lượng là 0,43kg.

Khối lượng của từng mẫu như sau: mẫu A1 (50 viên hình cầu) 0,22kg; mẫu A2 (01 hộp KS4-4911N) 1,55kg; mẫu A3 (01 hộp KS4-4911N) 1,53kg; mẫu A4 (01 hộp không nhãn, 01 hộp KS4-4911N) 3,2kg; mẫu A5 (02 hộp KS4-4911) 3,5kg; mẫu A6 (01 hộp KS4-49A, 01 hộp KS4-4911N và 49 viên hình cầu) 3,41kg; mẫu A7 (02 hộp KS4-49B, 03 hộp KS4-49A, 03 hộp KS4-4911N) 12,7kg.

Tại bản cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để xét xử bị can Bùi Hữu T về tội “buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự và bị can Hoàng Văn V về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Hữu T về tội “ Buôn bán hàng cấm”; truy tố bị cáo Hoàng Văn V về tội: “Tàng trữ hàng cấm”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 35 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Hữu T từ 200.000.000đồng đến 300.000.000đồng; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn V từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000đồng.

Về xử lý vật chứng: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật đồng thời buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo xác định quá trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Hữu T, Hoàng Văn V đã khai nhận: khoảng tháng 9/2023, Bùi Hữu T đã có hành vi mua 23 hộp pháo nổ loại 49 viên với số tiền 17.250.000đồng và ngày 12/12/2023, T tiếp tục mua 100 viên pháo nổ hình cầu với số tiền 1.000.000 đồng là hàng cấm nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho người khác. Sau đó, bị cáo T đã bán cho Hoàng Văn V 05 hộp pháo nổ loại 49 viên có khối lượng 7,9kg với số tiền 3.750.000đồng; bán cho Nguyễn Văn C2 01 hộp pháo nổ loại 49 viên có khối lượng 1,55kg với số tiền 750.000đồng; bán cho Nguyễn Thị H1 01 hộp pháo nổ loại 49 viên có khối lượng 1,53kg với số tiền 750.000đồng; bán cho Đinh Song H 50 viên pháo nổ hình cầu với số tiền 500.000đồng. Đồng thời, bị cáo T còn bán cho Trần Đ 11 hộp pháo nổ loại 49 viên với tổng số tiền 8.250.000đồng gồm hai đợt: đợt 1, bán cho Trần Đ 07 hộp, sau đó Đ bán lại cho Nguyễn Văn G 04 hộp và bán cho Nguyễn Trường S 03 hộp với giá 750.000đồng/hộp, G đã sử dụng 02 hộp còn lại 02 hộp G đã giao nộp cho cơ quan Công an có khối lượng 3,5kg còn S đã sử dụng hết số pháo đã mua của Đ; đợt 2, T bán cho Trần Đ 04 hộp, sau đó Đ cho Trịnh Thị P 02 hộp và P đã làm mất 02 hộp pháo trên, còn lại 02 hộp Đại cất giấu để sử dụng nhưng bị phát hiện nên đã giao nộp cho cơ quan Công an 02 hộp pháo trên có khối lượng 3,2kg. Ngoài ra, bị cáo T đã sử dụng 03 hộp pháo nổ cùng 01 viên pháo hình cầu, còn lại 02 hộp pháo nổ và 49 viên pháo hình cầu có khối lượng 3,41kg thì T đã giao nộp cho cơ quan Công an.

Ngày 22/12/2023, bị cáo Hoàng Văn V bị cơ quan Công an phát hiện đã có hành vi cất giấu 08 hộp pháo nổ loại 49 viên với khối lượng theo kết luận giám định là 12,7kg nhằm mục đích sử dụng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Bùi Hữu T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Hoàng Văn V phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng pháo, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Xuất phát từ đặc tính của pháo nổ là vật liệu nổ nguy hiểm có thể gây ra nhiều tác hại, không thể lường trước được hậu quả nặng nề do pháo gây ra. Chính vì vậy, Nhà nước có quy định cụ thể về quản lý, sử dụng pháo. Các bị cáo ý thức được pháo nổ là loại hàng hóa Nhà nước ta cấm sử dụng, cấm kinh doanh nhưng bị cáo T đã mua pháo về cất giấu nhằm mục đích sử dụng trong dịp tết nguyên đán và bán lại cho người khác; còn bị cáo V thì mua pháo tàng trữ để sử dụng thì đã bị phát hiện. Hành vi mua bán, tàng trữ pháo nổ là hàng cấm, là hành vi nguy hiểm, có thể gây ra những tác hại nặng nề cho xã hội để lại không ít đau thương cho người sử dụng bởi những tổn thương do pháo gây ra là rất phức tạp. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

[4].Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho cả ba bị cáo. Đối với bị cáo Hoàng Văn V phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo V. Bị cáo Bùi Hữu T khi bị Công an phát hiện về hành vi đánh bạc thì bị cáo đã tự khai báo về hành vi mua bán pháo nổ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; nhất thời phạm tội; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình. Do đó nhằm tạo cơ hội cho các bị cáo có điều kiện lao động, chăm sóc gia đình, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo để các bị cáo biết giá trị của đồng tiền mà không tiếp tục phạm tội cũng như răn đe phòng ngừa chung. Do đó, cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tại phiên tòa đối với các bị cáo.

Đối với những người bán pháo và giao pháo cho T và V, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L vẫn chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với Trần Đ đã có hành vi 02 lần mua tổng cộng 11 hộp pháo nổ của Bùi Hữu T. Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xác định không đủ yếu tố cấu thành tội “ buôn bán hàng cấm” và “tàng trữ hàng cấm” nên đã chuyển hồ sơ để xử lý hành chính theo quy định. Đồng thời ngày 08/8/2024, Chủ tịch UBND huyện L đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 3241/QĐ-XPHC và 3244/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Đ về hành vi tàng trữ pháo nổ với khối lượng 3,2kg, mức xử phạt là 15.000.000đồng và hành vi mua bán pháo nổ với khối lượng 3,5kg, mức xử phạt 40.000.000đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Văn G có hành vi tàng trữ 3,5kg pháo nổ, Nguyễn Thị H1 có hành vi tàng trữ 1,53kg pháo nổ, Nguyễn Văn C2 có hành vi tàng trữ 1,55kg pháo nổ, Đinh Song H có hành vi tàng trữ 0,22kg pháo nổ. Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xác định không đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ hàng cấm” nên đã chuyển hồ sơ để xử lý hành chính theo quy định. Đồng thời ngày 08/8/2024, Chủ tịch UBND huyện L đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn G, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn C2, Đinh Song H về hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo nổ với mức xử phạt 15.000.000đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7].Về xử lý vật chứng: qua xem xét vật chứng của vụ án do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thu giữ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với 16 khối hộp dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài chứa trong các mẫu từ A2 đến A7 và 44 viên (mẫu A6), trong đó: 01 hộp ký hiệu KS4-4911N (mẫu A2); 01 hộp ký hiệu KS4-4911N (mẫu A3); 02 hộp ký hiệu KS4-4911N (A4) gồm 01 hộp dán giấy và 01 hộp không nhãn; 02 hộp ký hiệu KS4-4911 (mẫu A5); 01 thùng niêm phong chứa 01 hộp ký hiệu KS4-4911N (mẫu A6), 01 hộp ký hiệu KS4-49A và 44 viên (mẫu A6); 01 thùng niêm phong chứa 02 hộp ký hiệu KS4-49B (mẫu A7), 03 hộp ký hiệu KS4-49A (mẫu A7), 03 hộp ký hiệu KS4-4911N (mẫu A7), bên trong mỗi khối đều chứa 47 viên pháo hình trụ tròn, mỗi viên đường kính 2,3cm cao 10cm có sợi dây truyền từ trong thân ra; 45 viên pháo bên ngoài vỏ nhựa hình cầu mỗi viên đường kính 2,7cm có sợi dây màu xanh dẫn bên trong thân ra (mẫu A1). Tất cả đều là pháo nổ nhà nước cấm lưu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu sam sung lite màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2730 classic màu đỏ bạc đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thế Đ1, Lê Văn H2, Bùi Hữu T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7plus màu đen đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Lê Anh T3, Hoàng Văn V. Các điện thoại này, các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán pháo, thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bị cáo T đã bán pháo cho Hoàng Văn V, Trần Đ, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Thị H1Đinh Song H thu lợi bất chính số tiền 14.000.000 đồng nên cần buộc bị cáo T phải nộp lại để sung ngân sách nhà nước.

[8]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Hữu T phạm tội “ Buôn bán hàng cấm”; bị cáo Hoàng Văn V phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
    1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: bị cáo Bùi Hữu T 350.000.000đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng)

    2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn V 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng)

      Tất cả để sung ngân sách Nhà nước.

  2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Tuyên:
    1. Tịch thu tiêu hủy: 16 khối hộp dán giấy nhiều màu có chữ nước ngoài chứa trong các mẫu từ A2 đến A7 và 44 viên (mẫu A6), trong đó: 01 hộp ký hiệu KS4-4911N (mẫu A2); 01 hộp ký hiệu KS4-4911N (mẫu A3); 02 hộp ký hiệu KS4-4911N (A4) gồm 01 hộp dán giấy và 01 hộp không nhãn; 02 hộp ký hiệu KS4-4911 (mẫu A5); 01 thùng niêm phong chứa 01 hộp ký hiệu KS4-4911N (mẫu A6), 01 hộp ký hiệu KS4-49A và 44 viên (mẫu A6); 01 thùng niêm phong chứa 02 hộp ký hiệu KS4-49B (mẫu A7), 03 hộp ký hiệu KS4-49A (mẫu A7), 03 hộp ký hiệu KS4-4911N (mẫu A7), bên trong mỗi khối đều chứa 47 viên pháo hình trụ tròn, mỗi viên đường kính 2,3cm cao 10cm có sợi dây truyền từ trong thân ra; 45 viên pháo bên ngoài vỏ nhựa hình cầu mỗi viên đường kính 2,7cm có sợi dây màu xanh dẫn bên trong thân ra (mẫu A1).

      Tất cả mẫu vật đều được dán niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký ghi tên Võ Như T5, Tô Anh T6 và dấu tròn màu đỏ có nộ dung Công an tỉnh L – Phòng K1.

    2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu sam sung lite màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2730 classic màu đỏ bạc đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thế Đ1, Lê Văn H2, Bùi Hữu T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7plus màu đen đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Lê Anh T3, Hoàng Văn V.

      (Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 04/9/ 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).

      Buộc bị cáo Bùi Hữu T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 14.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2024), riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HS - ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 148/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Buôn bán hàng cấm và Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Hữu T cùng đp Mua bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger