TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2024/HS-PT Ngày: 25 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Hưng và bà Nguyễn Ngọc Giao.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mộng Linh– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 210/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Huỳnh Tỷ Ú, do có kháng cáo của bị cáo Ú đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Tỷ Ú, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1957 tại L, Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Tỷ N và bà Trương Thị N1; vợ là Trần Thị G, sinh năm 1959; con có 07 người; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Ngọc P Công ty TNHH MTV N2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số E, đường B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)
Bị hại:
Anh Lê Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; (vắng mặt)
Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1989; địa chỉ: khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt)
Chị Phạm Thị Ngọc H1, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/02/2024, Huỳnh Tỷ Ú điều khiển xe mô tô biển số 67L1- 485.29 chở Huỳnh Thị G1 (vợ Ú) đến khu vực Trung tâm thương mại thuộc phường L, thị xã T, tỉnh An Giang để mua sắm. Trong lúc, ngồi bên ngoài chờ G1, Ú nhìn thấy trong hộc trái, phía trước của xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 59N3 – 260.26 do Lê Văn T đang điều khiển chở Phạm Thị Kiều T1 và con của T, nên nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại. Để thực hiện, Ú điều khiển xe theo sau, đến khu vực đường N (phường L, thị xã T), thấy T1 vào bên trong chợ mua hoa, T ngồi trên xe đợi, không chú ý quan sát, Ú cho xe áp sát bên trái xe của T, lén lút lấy trộm điện thoại, cất giấu, chuẩn bị điều khiển xe bỏ đi thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Quá trình điều tra, còn xác định: Trước ngày bị bắt quả tang với phương thức, thủ đoạn tương tự, Ú còn thực hiện các vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn phường L, thị xã T, đem bán cho người đàn ông (không rõ lai lịch) tại thành phố C, tỉnh An Giang, lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Cụ thể:
- Ngày 17/3/2023, tại tiệm B1 thuộc khóm L, phường L, thị xã T, Ú lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20 (trị giá 1.500.000 đồng) để trong hộc chứa đồ phía trước xe mô tô nhãn hiệu Vario, biển số 67H1 – 691.36 của Trần Văn L.
- Ngày 09/4/2023, tại cửa hàng F thuộc khóm L, phường L, thị xã T, Ú lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32 (trị giá 2.400.000 đồng) để trong hộc chứa đồ phía trước xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 67H1 – 200.15 của Trần Thị Thu H.
- Ngày 24/8/2023, tại cửa hàng H3 khóm L, phường L, thị xã T, Ú lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A22 (trị giá 2.500.000 đồng) để trong hộc chứa đồ phía trước xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 67H1 – 608.03 của Phạm Thị Ngọc H1.
Phát hiện bị mất trộm, L, H, H1 đến Cơ quan Công an trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T khởi tố Huỳnh Tỷ Ú để điều tra, xử lý.
Tang vật thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, gắn ốp lưng màu vàng (đã trao trả cho bị hại Lê Văn T); 01 xe mô tô nhãn hiệu Nouvo, biển số 67L1- 485.29 và tiền Việt Nam: 2.000.000 đồng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 718, 753, 758/KL-HĐĐG.TTHS ngày 20/02/2024, 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, gắn ốp lưng màu vàng (của Lê Văn T), giá trị 2.820.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20 (của Trần Văn L), trị giá 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32 (của Trần Thị Thu H), trị giá 2.400.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A22 (của Phạm Thị Ngọc H1), trị giá 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 9.220.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn T đã nhận lại tài sản; Trần Thị Thu H đã được Ú bồi thường số tiền 2.000.000 đồng; Trần Văn L đã được Ú bồi thường 1.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với người đàn ông (không rõ lai lịch) tại thành phố C, tỉnh An Giang có hành vi mua tài sản do Ú trộm cắp mà có, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Huỳnh Tỷ Ú khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Lời khai bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Trần Văn B, Trần Văn V, S, Trương Thanh H2 Cáo trạng số: 39/CT-VKSTC-HS ngày 20/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố Huỳnh Tỷ Ú về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tỷ Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tỷ Ú 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù, kể từ ngày bị cáo chấp hành án. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự: Công nhận sự tự nguyện của bị cáo Ú bồi thường cho bị hại Trần Thị Thu H số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, xử lý tang vật chứng và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/7/2024, bị cáo Huỳnh Tỷ Ú kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ú vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Ở giai đoạn phúc thẩm bị cáo Ú không có tình tiết nào mới để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tỷ Ú về việc xin hưởng án treo.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tỷ Ú 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh T2 Út phát biểu luận cứ: Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Tỷ Ú về tội danh, khung hình phạt là đúng người, đúng tội đúng pháp luật; tuy nhiên xét tổng quan vụ án, thì thấy bị cáo Ú ngay từ đầu khi Cơ quan điều tra làm việc đã tự thú các lần phạm tội trước đó, nên căn cứ lời khai của bị cáo,
Cơ quan điều tra mới có thông báo truy tìm người bị hại và xác định được bị hại mới làm rõ những lần phạm tội trước đó của bị cáo; bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng gây thiệt hại không lớn, nên đây được xem là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm h, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm chưa áp dụng 02 tình tiết này là bất lợi cho bị cáo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét bị cáo đã hội đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ú xin hưởng án treo.
Bị cáo Huỳnh Tỷ Ú xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo, hiện bị cáo tuổi cao đang mang bệnh tiểu đường, hở van tim, còn phải nuôi cháu nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tỷ Ú làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ, nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, tuy nhiên đã có lời khai rõ ràng tại Cơ quan điều tra, sự vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ vào Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
[4] Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ú khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/02/2024, lợi dụng anh T không chú ý quan sát, Ú cho xe áp sát bên trái xe của T, lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi (trị giá 2.820.000 đồng), thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Với phương thức tương tự vào ngày 17/3/2023, tại tiệm B1, bị cáo Ú lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20 (trị giá 1.500.000 đồng) của anh L; ngày 09/4/2023, tại cửa hàng F, bị cáo Ú lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32 (trị giá 2.400.000 đồng) của chị H; ngày 24/8/2023, tại cửa hàng H4, bị cáo Ú lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A22 (trị giá 2.500.000 đồng) của chị H1. Tổng giá trị tài sản của các bị hại lên đến 9.220.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Ú đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định
tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
[5] Xét tính chất hành vi phạm tội thì thấy; bị cáo Ú đã có hành vi lén lút, lợi dụng không có người trông coi tài sản đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và 1 tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, sau khi Cơ quan điều tra làm việc bị cáo đã khai nhận ra các lần phạm tội từ trước đó và căn cứ lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra mới thông báo truy tìm người bị hại, nên xác định được bị hại và làm rõ những lần phạm tội trước đó, nên cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết người phạm tội tự thú khai ra các lần phạm tội trước đó theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có thiếu sót.
[6] Xét thấy, bị cáo Ú phạm tội nhiều lần nhưng tài sản có giá trị không lớn đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo hiện nay đã trên 67 tuổi thuộc người cao tuổi, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đã thực sự hối hận và quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, thể hiện có khả năng tự cải tạo, bị cáo đã khắc phục bồi thường thiệt hại cho các bị hại; bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nêu trên; việc bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù là không cần thiết và cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương; hoàn toàn phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo Ú được hưởng án treo, thời gian thử thách tại địa phương, cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội; đối với đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa không cho hưởng án treo không được Hội đồng xét xử chấp nhận; luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tỷ Ú về việc xin hưởng án treo.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tỷ Ú phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tỷ Ú 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Huỳnh T2 Út cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Tỷ Ú không phải chịu.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế độ án treo cho bị cáo).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 148/2024/HS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 148/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Huỳnh Ty U- Trộm cắp tài sản
