Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 148/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-4-2024

V/v ly hôn giữa chị Lê Thị

Thu Hương và anh Trần

Trọng Đức

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Anh.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Bảo

Bà Nguyễn Thị Kim Chung

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà:Nguyễn Thị Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1994; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Số nhà G phố P, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Trọng Đ, sinh năm 1994; căn cước công dân số: 03609400663; nơi đăng ký thường trú: Số B khu Q, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số A đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 19-3-2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là chị Lê Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Trọng Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 19-9-2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không cùng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không còn tình cảm, không quan tâm tới nhau. Hiện quan hệ hôn nhân của vợ chồng không còn tồn tại trên thực tế, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

- Về nuôi con chung: Chị và anh Trần Trọng Đ có 01 con chung là Trần Tuấn K (giới tính: Nam), sinh ngày 16-12-2014. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại đơn trình bày quan điểm và đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 18-3-2024, bị đơn là anh Trần Trọng Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Thu H kết hôn trên trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 19-9-2014. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng nhiều lần cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Vợ chồng hiện đang sống ly thân. Nay chị H có quan điểm xin ly hôn, anh cũng nhất trí ly hôn.

- Về con chung: Anh và chị Lê Thị Thu H có 01 con chung là Trần Tuấn K (giới tính: Nam), sinh ngày 16-12-2014. Nếu ly hôn, anh có quan điểm để chị Lê Thị Thu H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Tại đơn đề nghị đề ngày 15-3-2024, cháu Trần Tuấn K trình bày nếu bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ để thuận lợi cho việc sinh hoạt, học tập.

4. Tại biên bản xác minh về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, đại diện tổ dân phố số A, phường T, thành phố N cung cấp:

Anh Trần Trọng Đ hiện cư trú tại địa chỉ 1 T, phường T, thành phố N. Chị Lê Thị Thu H không cư trú tại địa chỉ trên. Hiện nay hai vợ chồng không còn chung sống cùng nhau. Vợ chồng có 01 con chung. Đại diện tổ dân phố không biết nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Đ. Đại diện tổ dân phố đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa có quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48, Điều 97, Điều 208, Điều 209, Điều 210, Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử ly hôn giữa chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ.

Về nuôi con: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; giao cho chị Lê Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng con Trần Tuấn K, sinh ngày 16-12-2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Thu H là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Lê Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Trần Trọng Đ. Bị đơn là anh Trần Trọng Đ không có yêu cầu phản tố. Do vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “ly hôn, tranh chấp nuôi con”

[2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa:

Nguyên đơn là chị Lê Thị Thu H và bị đơn là anh Trần Trọng Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp trong vụ án:

3.1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định vào ngày 19-9-2014. Như vậy hôn nhân giữa chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ là hôn nhân hợp pháp. Chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ đều trình bày vợ chồng không còn tình cảm, hiện đang sống ly thân và thống nhất đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Anh Trần Trọng Đ có đơn xin vắng mặt trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. chị Lê Thị Thu H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Thu H: Xử ly hôn giữa chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2. Về nuôi con chung:

Chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ có 01 con chung là Trần Tuấn K (giới tính: nam), sinh ngày 16-12-2014. Chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ đều có quan điểm chị Lê Thị Thu H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Tuấn K sau khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy chị Lê Thị Thu H có điều kiện nuôi con, cháu Trần Tuấn K có nguyện vọng muốn ở với mẹ, vì vậy Hội đồng xét xử giao cháu Trần Tuấn K cho chị Lê Thị Thu H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau khi vợ chồng ly hôn.

3.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:

Chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Án phí ly hôn sơ thẩm:

Chị Lê Thị Thu H là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Số tiền tạm ứng án phí chị Lê Thị Thu H đã nộp được khấu trừ vào tiền án phí.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV:

1. Xử ly hôn giữa chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ.

2. Về nuôi con: Giao cho chị Lê Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Tuấn K (giới tính: nam), sinh ngày 16-12-2014 sau khi chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.

Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung.

4. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002006 ngày 18-3-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

5. Chị Lê Thị Thu H và anh Trần Trọng Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

6. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định;
  • - Chi cục Thi hành án thành phố Nam Định;
  • - UBND phường Trần Đăng Ninh (Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 19-9-2014);
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Mai Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 148/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị H có đơn xin ly hôn anh Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger