|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 148/2024/HS-ST
Ngày 21-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Minh và bà Hoàng Thị Hội.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thuỷ, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 154/2024/TLST-HS ngày 07/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 145/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024 đối với:
Bị cáo: Lò Văn N, sinh ngày: 04/4/1986 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản Tòng, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn E (đã chết) và bà Lò Thị P; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Tại Bản án 133/2021/HSST ngày 30/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 16 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án 64/2016/HSST ngày 24/02/2016 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 30 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, tổ công tác Công an xã C, huyện M làm nhiệm vụ tại bản Ông L, xã C, huyện M tiến hành kiểm tra Lò Văn N đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hiện Lò Văn N đang cất giấu trong túi áo khoác bên phải đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 ống nhựa màu đen một đầu kín, một đầu có nắp màu trắng đựng 18 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine; 01 ống nhựa màu đen có nắp màu trắng, một đầu kín bên trong đựng các cục chất bột màu trắng và 01 ống nhựa màu đen hàn kín 2 đầu bên trong đựng 03 gói nilon màu trắng đều đựng cục chất bột màu trắng nghi là H. Lò Văn N khai nhận đó là ma túy của N cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Lò Văn N, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Lò Văn N bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra, làm rõ.
Ngày 19/4/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác định khối lượng ma túy thu giữ của Lò Văn N kết quả như sau:
Khối lượng 18 viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn N được 1,78 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,54 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N1.
Khối lượng các cục chất bột màu trắng trong ống nhựa màu đen thứ nhất được 0,61 gam, lấy 0,15 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N2.
Khối lượng các cục chất bột màu trắng trong ống nhựa màu đen thứ 2 được 1,23 gam, lấy 0,32 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N3.
Tại Kết luận giám định số 937 ngày 21/4/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận:
- “- 01 Mẫu ký hiệu N1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,54 gam.
- - 02 mẫu ký hiệu N2, N3 gửi giám định là ma tuý; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của các mẫu gửi giám định là N2 = 0,15gam, N3 = 0,32gam.
- - Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,78 gam; loại Methamphetamine và 1,84 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”.
2
Quá trình điều tra Lò Văn N khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Sáng ngày 18/4/2024, N đi đến bản C, xã C mục đích tìm mua ma túy mang về sử dụng. Khi đi đến nơi N gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết được 18 viên hồng phiến được gói bằng nilon màu hồng và H được gói bằng nilon màu trắng với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Nhiệm chia một ít Heroine cho vào ống nhựa màu đen có nắp màu trắng, số Heroine còn lại chia thành 3 gói bằng nilon màu trắng cho vào ống nhựa màu đen rồi dùng bật lửa ga hàn kín hai đầu, rồi cho 18 viên hồng phiến vào ống nhựa màu đen có nắp màu trắng. Sau khi chia ma túy xong, N cất giấu các gói ma túy trong túi áo khoác bên tay phải đang mặc rồi đi về. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, N mặc chiếc áo cất giấu ma túy đi đến bản Ông L, xã C để bẫy chuột, sau đó đi về. Trên đường đi về gặp tổ công tác Công an xã C, huyện M kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn N trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
-
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 48 tháng đến 60 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lò Văn N, bắt ngày 18/4/2024 (01 mảnh ni lon trắng, 03 ống nhựa màu đen + phong bì niêm phong ban đầu, mẫu còn lại ký hiệu L1 = 1,24 gam Methamphetamine, L2 = 0,46 gam Heroine; L3 = 0,91 gam Heroine); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lò Văn N.
3
3. Bị cáo được miễn phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã C, huyện M thu giữ của bị cáo vào ngày 18/4/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông với giá 500.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã C lập vào hồi 23 giờ 40 phút ngày 18/4/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 937 ngày 21/4/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “01 Mẫu ký hiệu N1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,54 gam; 02 mẫu ký hiệu N2, N3 gửi giám định là ma tuý; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của các mẫu gửi giám định là N2 = 0,15gam, N3 = 0,32gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,78 gam; loại Methamphetamine và 1,84 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy
4
định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.”. Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, số thứ tự 247 và Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, số thứ tự 9 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lò Văn N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 18/4/2024 bị cáo Lò Văn N đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 1,78 gam Methamphetamine và 1,84 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Căn cứ Điều 4 Chương II Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số Điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng của các chất ma túy Methamphetamine và Heroine thu giữ của Lò Văn N là 1,78 gam + 1,84 = 3,62 gam. Hành vi của bị cáo Lò Văn N đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Lò Văn N không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án 133/2021/HSST ngày 30/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 16 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý. Do đó, bị cáo bị áp dụng một tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai
5
báo, bị cáo có bố đẻ là ông Lò Văn E được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Bị cáo 02 tiền án tại Bản án 133/2021/HSST ngày 30/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 16 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Chưa được xóa án tích); Bản án 64/2016/HSST ngày 24/02/2016 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xử phạt 30 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Đã được xóa án tích), nhưng sau khi chấp hành án trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện dẫn đến có hành vi phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lò Văn N, bắt ngày 18/4/2024 (01 mảnh ni lon trắng, 03 ống nhựa màu đen + phong bì niêm phong ban đầu, mẫu còn lại ký hiệu L1 = 1,24 gam Methamphetamine, L2 = 0,46 gam Heroine; L3 = 0,91 gam Heroine); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lò Văn N, xét thấy là vật không có giá trị sử dụng. Áp dụng điển c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về các vấn đề khác:
6
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lò Văn N tại bản Căng Tỵ, xã C, huyện M. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
[6] Về án phí: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn N có yêu cầu được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy Lò Văn N là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Thời hạn tạm giam của bị cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn N 54 (Năm mươi tư) tháng tù.
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 19/4/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
-
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lò Văn N, bắt ngày 18/4/2024 (01 mảnh ni lon trắng, 03 ống nhựa màu đen + phong bì niêm phong ban đầu, mẫu còn lại ký hiệu L1 = 1,24 gam Methamphetamine, L2 = 0,46 gam Heroine; L3 = 0,91 gam Heroine); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lò Văn N.
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
7
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Lò Văn N.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 21/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Long Bình |
8
Bản án số 148/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 148/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÒ Văn N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
