Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21/5/2024
V/v :” Tranh chấp ly hôn”


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Bà Ngô Thị Thơm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 159/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023, về việc “ Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 489/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/12/2023 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐ-ST ngày 23/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐ-ST ngày 21/02/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐ-ST ngày 21/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2024/QĐ-ST ngày 22/4/2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Bích P, sinh ngày 02/8/1989.

    Địa chỉ: Số D N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

  2. Bị đơn: Anh Chang Nin P1, sinh ngày 19/02/1980.

    Địa chỉ: B, L, A, thành phố T, tỉnh Ontario, Canada.

    Quốc tịch: Canada.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Bùi Thị Bích P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Qua giới thiệu chị và anh C Nin Phi là người quốc tịch Canada, được tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Sở tư pháp tỉnh Hải Dương ngày 31/12/2009. Sau khi đăng ký kết hôn chị và anh C Nin Phi chung sống cùng nhau khoảng 2 tháng thì anh C Nin Phi quay lại Canada làm việc, chị ở Việt Nam chờ thủ tục sang đoàn tụ cùng chồng. Tuy nhiên do không vượt qua được vòng phỏng vấn nên chị không sang được Canada. Anh Chang Nin P1 có về Việt Nam thăm chị được 2 lần, lần gần đây nhất vào năm 2016. Đến năm 2017 vợ chồng ít liên lạc với nhau, từ năm 2020 thì chấm dứt liên lạc. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không còn khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Chang Nin P1.

Về con chung: Chị và anh C Nin Phi không có con chung, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của chị P và anh Chang Nin P1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị P được ly hôn anh Chang Nin P1. Về án phí chị P phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án chị P cung cấp địa chỉ của anh C Nin Phi tại: B, L, A, thành phố T, tỉnh Ontario, Canada. Ngoài địa chỉ trên chị P không cung cấp được địa chỉ nào khác. Tòa án đã gửi hồ sơ tới Bộ tư pháp để thực hiện ủy thác theo quy định của pháp luật. Ngày 19 tháng 05 năm 2023 Tòa án đã nhận được công hàm số 1200/CH- BTP của Bộ tư pháp, thể hiện việc Bộ tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gửi văn bản ủy thác đến Bộ tổng Chưởng lý Tòa án bang O, Canada để thực hiện việc ủy thác với anh Chang Nin P1. Tuy nhiên, Tòa án vẫn không nhận được kết quả ủy thác. Vào các ngày 20 tháng 9 năm 2023 và ngày 29/12/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã tiếp tục có công văn gửi Bộ tư pháp với nội dung, đề nghị Bộ tư pháp cho biết kết quả ủy thác đối với anh Chang Nin P1, nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được kết quả trả lời. Tòa án đã gửi Hồ sơ đến Đ tại Canada để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Đ, đồng thời lập biên bản niêm yết theo quy định tại khoản 3 Điều 474 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, chị P có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị P và anh C Nin Phi theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Bích P và anh C Nin Phi tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Sở tư pháp tỉnh Hải Dương ngày 31/12/2009, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn chị P và anh C Nin P1 có thời gian ngắn chung sống cùng nhau tại Việt Nam, sau đó anh Chang Nin P1 quay lại Canada làm việc. Chị P có làm thủ tục đoàn tụ cùng chồng nhưng không thực hiện được. Do vậy chị P và anh C Nin Phi không thể đoàn tụ, mỗi người sống một nơi. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn với anh Chang Nin P1. Xét thấy, từ năm 2019 anh Chang Nin P1 đã về Canada, vợ chồng không liên, không ai quan tâm đến ai. Do vậy có thể thấy mâu thuẫn giữa chị P và anh Chang Nin P1 đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P.
  • - Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định vợ chồng không có con chung, không có nợ chung và cũng không có tài sản chung nên ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí, lệ phí ủy thác: Chị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, lệ phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Khoản 1 Điều 228; khoản 3 Điều 153, Điều 477, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Bích P được ly hôn anh Chang Nin P1.
  2. Về án phí: Chị Bùi Thị Bích P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0004856 ngày 17 tháng 4 năm 2023 tại chi Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị P đã nộp đủ án phí.

    Về lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Bùi Thị Bích P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000đ đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0004893 ngày 05 tháng 05 năm 2023 và tiền chi phí thực tế 200 đô la Úc (đã nộp đủ).

  3. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Bích P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Anh Chang Nin P1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Sở tư pháp;
  • - UBND phường Sao Đỏ;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2024/HNGĐ-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 148/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi khiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger