|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG Bản án số: 148/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04/11/2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Trinh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Mua
- Bà Nguyễn Thị Sương
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm– Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long: bà Nguyễn Hồng Phấn-Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 129/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1989 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã L, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/7/2025 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu C trình bày:
Qua mai mối chị C và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2012, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 06/02/2012. Thời gian đầu vợ chồng sống tương đối hạnh phúc thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022 và chính thức ly thân từ năm 2022 cho đến nay không về đoàn tụ được.
Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh T có tính gia trưởng nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau. Anh T còn có mâu thuẫn trầm trọng với mẹ ruột của chị C nên trong thời gian sống chung phía anh T và gia đình chị C không thể dung hoà, cuộc sống hôn nhân giữa chị C và anh T không hạnh phúc. Hiện nay chị C xác định tình cảm vợ chồng dành cho anh T không còn nữa nên chị C yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con C1: chị C và anh T có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 30/9/2014 và Nguyễn Hoàng V, sinh ngày 08/3/2018. Hiện hai cháu đang sống chung với chị C. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Văn T được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và xét xử nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.
Tại bản tự khai ngày 14/7/2025, cháu Nguyễn Hoàng N và Nguyễn Hoàng V cùng trình bày: sau khi cha mẹ ly hôn các cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là chị Nguyễn Thị Thu C.
Tại phiên tòa, chị C và anh T vắng mặt.
Tại đơn xin vắng mặt ngày 19/9/2025 chị Nguyễn Thị Thu C xin vắng mặt, chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Về hôn nhân: chị C yêu cầu ly hôn với anh T
Về con chung: có 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 30/9/2014 và Nguyễn Hoàng V, sinh ngày 08/3/2018. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Vụ án thụ lý đúng thẩm quyền loại việc theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 37 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng về việc thu thập chứng cứ và hòa giải. Hội đồng xét xử đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu C.
- Chấp nhận cho chị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn T, giao hai cháu: Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 30/9/2014 và Nguyễn Hoàng V, sinh ngày 08/3/2018 cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: chị C không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Thu C phải nộp 300.000đ án phí ly hôn, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp nên chị C không phải nộp tiếp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận quan hệ tranh chấp về “ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn cư trú tại ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh Long nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2-Vĩnh Long quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu C có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 09, quyển số 01 ngày 06/02/2012 của Ủy Ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu C và anh Nguyễn Văn T là hôn nhân hợp pháp.
Theo lời trình bày của chị C thì sau khi cưới nhau chị C và anh T cũng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng khi xảy ra mâu thuẫn thì không hàn gắn được. Chị C cho rằng chị và anh T bất đồng quan điểm sống nên thường hay cãi nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng gay gắt, chị C nhiều lần khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng không được. Chị C và anh T phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2022 và ly thân đến nay không về đoàn tụ được. Tại đơn xin ly hôn chị C trình bày hiện chị C không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Văn T được Tòa án thông báo thụ lý vụ án nhưng không có văn bản trả lời, không tham gia hòa giải và phiên tòa xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu kèm theo để giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử nhận thấy anh T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án xem như không có thành ý hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị C nên mối quan hệ hôn nhân của chị C và anh T không thể hàn gắn được. Chị C và anh T mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị C là có căn cứ, phù hợp Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
[3.2] Về con chung: chị C trình bày vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 30/9/2014 và Nguyễn Hoàng V, sinh ngày 08/3/2018. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh T để làm rõ yêu cầu nuôi con chung của chị C nhưng anh T vắng mặt không rõ lý do nên không thể thu thập được ý kiến của anh T. Tại Bản tự khai ngày 14/7/2025, hai cháu: Nguyễn Hoàng N và Nguyễn Hoàng V có nguyện vọng là sau khi cha mẹ ly hôn hai cháu được tiếp tục sống chung với mẹ là chị Nguyễn Thị Thu C. Mặt khác, chị C trình bày từ khi chị C và anh T ly thân đến nay hai cháu Nguyễn Hoàng N và Nguyễn Hoàng V sống chung với chị C, do chị C nuôi dưỡng đã ổn định về cuộc sống và đang trong quá trình phát triển tâm sinh lý. Để đảm bảo ổn định cho sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như tâm sinh lý cho cháu N và cháu V trong thời gian tới. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị C. Giao hai cháu: Nguyễn Hoàng N và Nguyễn Hoàng V cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: chị C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc chị Nguyễn Thị Thu C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000523 ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị C đã nộp đủ.
[5] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Vĩnh Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147; Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu C
- 1. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu C được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- 2. Về con chung:
Giao hai con chung tên: Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 30/9/2014 và Nguyễn Hoàng V, sinh ngày 08/3/2018 cho chị Nguyễn Thị Thu C trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị Thu C không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị Thu C không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: buộc chị Nguyễn Thị Thu C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000523 ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị C đã nộp đủ.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Ngọc T1 |
Bản án số 148/2025/HNGĐ-ST ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 148/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Thu C yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn T
