Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148 /2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03/4/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Phạm Thị Nguyên
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Thư ký phiên tòa:Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 439/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 03/2025/TB-TA ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1981,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số nhà F, ngách H, ngõ E, khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu X, sinh năm 1978,

Địa chỉ: Số nhà F, ngách H, ngõ E, khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1934, địa chỉ: Số nhà F, ngách H, ngõ E, khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Chị H, anh X, ông T đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin giải quyết vắng mặt chị Trần Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hữu X tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/6/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, định hướng tương lai khác nhau. Hai bên gia đình đã khuyên bảo vợ chồng nhiều lần nhưng không tháo gỡ được vướng mắc. Đến năm 2016, vợ chồng chị đã sống ly thân, nay chị xác định vợ chồng đã không còn tình cảm, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh X.

- Về con chung: Chị và anh X có 02 con chung Nguyễn Thị H1, sinh ngày 15/4/2005 và Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 24/9/2009. Cháu H1 đã trưởng thành, hiện nay cháu H2 đang ở cùng với anh X. Do chị hiện nay đang làm việc tại Đài Loan nên chị nhất trí để anh X được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H2 cho đến khi trưởng thành, chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng 2.000.000đồng/tháng. Trường hợp anh X không nuôi dưỡng cháu H2, chị sẽ có trách nhiệm nuôi dưỡng cháu H2 và không yêu cầu anh X cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Nguyễn Hữu T (là bố đẻ bị đơn) trình bày:

Về thời điểm kết hôn như chị H trình bày là đúng. Anh X ban ngày đi làm không có mặt tại gia đình, buổi tối anh X mới về nhà, chính quyền địa phương đã liên hệ trực tiếp với anh X nhưng anh X không về nhà để làm việc trực tiếp với Tòa án được. Anh X đã biết việc chị H có đơn xin ly hôn với anh X và giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Anh X có quan điểm không nhất trí ly hôn với chị H và xác định vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Thị H1, sinh năm 2005, Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 2009, cháu H1 đang ở Đài Loan cùng chị H, cháu H2 đang ở cùng với anh X. Trường hợp ly hôn, anh X sẽ nuôi dưỡng cháu H2, chị H đề nghị cấp dưỡng 2.000.000đồng/tháng, anh X nhất trí. Về tài sản chung, nợ chung: Anh X xác định vợ chồng không có. Anh X có nguyện vọng khi nào chị H2 về nước thì vợ chồng sẽ làm thủ tục ly hôn. Do anh X đi làm nên đề nghị Tòa án giao các văn bản tố tụng cho ông nhận thay anh X và ông sẽ có trách nhiệm giao cho anh X.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị H có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh X vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; ông T có quan điểm xin vắng mặt.

Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Hữu X; Giao cho anh X trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 24/9/2009 cho đến khi trưởng thành. Chị H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh X là 2.000.000đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Chị Trần Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Hữu X. Chị H hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Bị đơn anh X có hộ khẩu thường trú tại khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

[1.2] Các văn bản chị H gửi về cho Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, gồm: Đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt đã được Tòa án Trưng cầu giám định dấu vân tay của chị H trên các tài liệu này. Tại Kết luận giám định số 3959/KL-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng K Công an thành phố H đã kết luận: “Các dấu vân tay ký hiệu DV1, DV3, DV5, DV7, DV9 in trên các mẫu cần giám định với dấu vân tay in tại ô Ngón trỏ trái trên 01 (một), tờ khai chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Thị H, sinh ngày 17/11/1981, ĐKTT: V, Hải Dương, lập ngày 16/4/199 (mẫu so sánh) là cùng một người.

Các dấu vân tay ký hiệu DV2, DV4, DV6, DV8, DV10 in trên các mẫu cần giám định với dấu vân tay in tại ô Ngón trỏ trái trên 01 (một), tờ khai chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Thị H, sinh ngày 17/11/1981, ĐKTT: V, Hải Dương, lập ngày 16/4/199 (mẫu so sánh) là cùng một người.”. Do vậy, các tài liệu trên là hợp pháp và có giá trị pháp lý.

[1.3]. Tại phiên tòa chị H có đơn giải quyết xử vắng mặt; anh X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; ông T có quan điểm xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh X, ông T.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Hữu X tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/6/2004 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do nảy sinh nhiều mâu thuẫn nên đến năm 2016 chị H và anh X sống ly thân. Chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan chưa về nước, xác định không còn tình cảm với anh X và có đơn xin ly hôn, anh X có quan điểm không nhất trí ly hôn nhưng anh X không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng thực tế chị H đang lao động tại Đài Loan, anh X ở Việt Nam, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh X đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị H ly hôn anh X là phù hợp.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị H và anh X có 02 con chung Nguyễn Thị H1, sinh ngày 15/4/2005 và Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 24/9/2009. Hiện nay cháu H1 đã trưởng thành, chị H và anh X cùng có quan điểm để anh X được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H2, chị H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung là 2.000.000đồng/tháng. Hội đồng xét xử, xét thấy: Cháu H đang có cuộc sống ổn định cùng anh X và có nguyện vọng được ở với anh X. Do đó, cần tôn trọng nguyện vọng của con chung, giao cho anh X được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H2 cho đến khi trưởng thành và chấp nhận thỏa thuận của vợ chồng về việc chị H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh X là 2.000.000đồng/tháng. Sau khi ly hôn chị Trần Thị H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Hữu X.

2. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Hữu X được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 24/9/2009 thời gian từ tháng 4/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chị Trần Thị H có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng anh Nguyễn Hữu X là 2.000.000đồng/tháng thời gian từ tháng 3/2025 đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Chị Trần Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày anh X có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung nếu chị H chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005114 ngày 01/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (chị T1 đã nộp thay).

Chị H còn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung (chị H chưa nộp).

4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Hữu X vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Chị Trần Thị H vắng

mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Thanh Bình, TP. Hải Dương (để ghi vào sổ ĐKKH);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 148/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H xin ly hôn Nguyễn Hữu X, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger