|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 148/2025/DS-PT Ngày 02-4-2025 V/v Tranh chấp chia thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Bà Đinh Cẩm Đào
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 590/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp chia thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 406/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
- Nguyên đơn: Bà Hồng Kim Y, sinh năm: 1956.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng M, sinh năm: 1951 (theo văn bản ủy quyền ngày 30/5/2023, có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Hồng Văn T (Phạm Văn T1), sinh năm: 1955.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lâm Ngọc T2, sinh năm: 1958 (theo văn bản ủy quyền ngày 01/8/2023, có mặt).
Cùng địa chỉ: Nhà không số, kênh Đ, đường N, khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lâm Ngọc T2, sinh năm: 1958 (có mặt).
Địa chỉ: Nhà không số, kênh Đ, đường N, khóm E, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau. - Bà Mai Ngọc Ẩ, sinh năm: 1949 (vắng mặt).
- Ông Hứa Văn S, sinh năm: 1975 (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thùy T3, sinh năm: 1976 (vắng mặt).
- Bà Hồng Thị H, sinh năm: 1943, (chết 1969).
Người thừa kế thế vị của bà Hồng Thị H:- Bà Hồ Thanh H1 (không triệu tập).
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
-
- Bà Hồ Bích P, sinh năm: 1965 (không triệu tập).
Địa chỉ: Ấp E, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. - Bà Hồ Thanh N, sinh năm: 1965 (không triệu tập).
Địa chỉ: Ấp N, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. - Ông Hồ Tân P1, sinh năm: 1961 (không triệu tập).
Địa chỉ: Số H, ấp D, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Hồ Bích P, sinh năm: 1965 (không triệu tập).
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1936, (chết 2012).
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà C:- Ông Phạm Hoàng Dũ L, sinh năm: 1980 (không triệu tập).
Địa chỉ: Số A, ấp A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. - Bà Phạm Ngọc T4, sinh năm: 1973 (không triệu tập).
Địa chỉ: Số A, ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau. - Bà Phạm Ngọc M1 (không triệu tập).
Địa chỉ: Số D, ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. - Bà Phạm Ngọc H2, sinh năm: 1963 (không triệu tập).
Địa chỉ: Số A, đường N, khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau. - Bà Phạm Ngọc T5. Sinh năm: 1961 (không triệu tập).
Địa chỉ: Số A, đường L, khóm H, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau. - Bà Phạm Thị Bé T6 (không triệu tập).
Địa chỉ: Số A, đường N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. - Ông Phạm Văn B (không triệu tập).
Địa chỉ: Số C, đường U, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Ông Phạm Hoàng Dũ L, sinh năm: 1980 (không triệu tập).
- Bà Nguyễn Kim N1, sinh năm: 1940, (chết 2001).
- Ông Hồng Ngọc T7. Không xác định được địa chỉ.
- Bà Hồng Kim O. Không xác định được địa chỉ.
Người kháng cáo: Bà Hồng Kim Y, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Cụ Hồng Minh L1, đã chết năm 1996 và cụ Phạm Thị L2 (Liêng) (chết năm 1990, hai cụ chung sống với nhau năm khoảng năm 1956, 1957.
Quá trình chung sống hai cụ đã tạo lập được tài sản là căn nhà gỗ, cây lá địa phương và quyền sử dụng đất, phần đất thuộc tờ bản đồ số 02, thửa 410, tọa lạc tại số B, ấp B, xã T, thành phố C với diện tích 116m². Phần đất trên được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/6/1993 đứng tên ông Hồng Minh L1.
Trong quá trình chung sống, hai cụ có 02 người con chung là bà Hồng Kim Y và ông Hồng Văn T. Ngoài ra, cụ L1 có 3 người con riêng là Hồng Thị H, Hồng Ngọc T7, Hồng Kim O. Bà L2 có 02 người con riêng gồm Nguyễn Thị C, Nguyễn Kim N1. Các con riêng của cụ L1, cụ L2 nguyên đơn không rõ địa chỉ, còn sống hay đã chết.
Đối với tài sản trên, do có một phần diện tích bị ảnh hưởng bởi dự án khôi phục Quốc lộ A A nên vào năm 2002 nhà nước có thu hồi và đền bù phần diện tích đất là 61.54m² bằng số tiền 92.310.000 đồng và nhà ở diện tích 37.48m² bằng số tiền 23.612.400 đồng.
Theo bảng trích đo hiện trạng của Trung tâm K, phần đất đo đạc có tổng diện tích 79,4m², trong đó có 20.2m² nằm trong hành lang lộ giới Quốc lộ A. Như vậy, sau khi trừ diện tích đất được bồi thường và diện tích đất nằm trong hành lang lộ giới, phần đất còn lại có diện tích 59,2m².
Khi chết 02 cụ chưa phân chia di sản cho các con và cũng không để lại di chúc.
Nay bà Y khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật đối với nhà và quyền sử dụng đất, cụ thể:
Yêu cầu chia phần đất có diện tích 59,2m², thành 02 phần bằng nhau, bà Y nhận 29,6m², nhận giá trị. Theo chứng tư thẩm định giá, quyền sử dụng đất có giá 10.500.000 đồng/m². Như vậy, bà Y nhận 310.800.000 đồng.
Yêu cầu chia thừa kế là căn nhà có diện tích 59,2m², thành 02 phần bằng nhau, bà Y nhận 29,6m², nhận giá trị. Theo chứng tư thẩm định giá, nhà có giá 5.000.000 đồng/m². Như vậy, bà Y nhận 148.000.000 đồng.
Đối với tiền đền bù khi nhà nước thu hồi, bồi thường, trước đây bà Y yêu cầu chia số tiền 123.672.000 đồng nhưng tại phiên tòa, đại diện bà Y chỉ yêu cầu chia tổng số tiền 115.922.400 đồng, trong đó tiền bồi thường quyền sử dụng đất tiền 92.310.000 đồng và nhà ở 23.612.400 đồng. Chia làm 02 phần bằng nhau, bà Y nhận 57.961.200 đồng.
Hiện nay, bà Y đang phải thuê chỗ ở của người khác để sinh sống, hiện tại nhà trên ông T đang cho người khác thuê nên bà Y yêu cầu được thuê lại nhà trên theo giá thuê mà bên thuê đang trả cho ông T.
Tổng giá trị di sản bà Y yêu cầu chia thừa kế là 516.761.200 đồng.
Về chi phí tố tụng: Bao gồm chi phí đo đạc 3.228.000 đồng và định giá 10.000.000 đồng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Không yêu cầu gì khác.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, bà Lâm Ngọc T2 trình bày với tư cách đại diện bị đơn:
Bà là vợ của ông Hồng Văn T. Cha mẹ ông Hồng Văn T là cụ Hồng Minh L1 (đã chết năm 1996) và cụ Phạm Thị L2 (chết năm 1990) kết hôn với nhau năm 1957, có giấy chứng nhận hôn thú. Ông L1 và bà L2 có 02 người con chung là bà Hồng Kim Y và ông Hồng Văn T. Ngoài ra, ông L1 có 03 người con riêng gồm Hồng Thị H (đã chết năm 1969), Hồng Ngọc T7 (đã chết năm 2009), Hồng Kim O; bà L2 có 02 người con riêng gồm Nguyễn Thị C (đã chết năm 2012), Nguyễn Kim N1 (đã chết năm 2001). Đối với bà Hồng Kim O, theo thông tin bà được biết thì bà O định cư ở Australia nhưng bà không rõ địa chỉ cụ thể. Bà O đi Australia trước những năm 1980, không xác định được cụ thể thời gian. Trước khi bà O đi Australia, bà sinh sống tại Cà Mau nhưng không xác định được địa chỉ cụ thể. Đối với Hồng Ngọc T7, trước khi chết, bà chỉ biết thông tin sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh, không biết địa chỉ cụ thể.
Quá trình chung sống ông L1, bà L2 đã tạo lập được tài sản là căn nhà trên phần đất diện tích 116m², tờ bản đồ số 02, thửa 410 tọa lạc tại số B, ấp B, xã T, thành phố C. Phần đất trên được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/6/1993 đứng tên ông Hồng Minh L1.
Khi còn sống ông L1 có thỏa thuận bằng lời nói sẽ cho bà Hồng Kim Y phần đất diện tích ngang khoảng 2.5m, dài khoảng 14m nằm trong diện tích 116m² của ông L1, bà L2, bà Y đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà không rõ diện tích bao nhiêu.
Đối với vợ chồng bà thì sống cùng với ông L1, bà L2 tại phần đất trên và khi còn sống, ông L1 đã nói với vợ chồng bà sẽ tặng cho phần đất trên cho vợ chồng bà. Việc tặng cho trên có anh em trong gia đình biết và ông T đăng ký tên của ông T tại hồ sơ kỹ thuật thửa đất đối với phần đất trên.
Đến năm 1998 do nhà cũ xuống cấp trầm trọng nên vợ chồng bà đã xin phép cất lại nhà ở. Đến năm 2006, vợ chồng bà tiếp tục làm đơn xin sửa chữa nhà. Tại đơn chỉ xin sửa chữa nhà nhưng thực tế là xây mới lại vì nếu xin xây mới thì thủ tục sẽ lâu nên làm đơn xin sửa nhà.
Năm 2002 do mở rộng quốc lộ A, bà và ông T nhận được số tiền đền bù như đại diện nguyên đơn trình bày.
Nay bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì phần đất, nhà mà nguyên đơn yêu cầu là tài sản của ông bà, không phải là di sản thừa kế.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn thì bà yêu cầu: Đối với phần diện tích đất 59,2m² mẹ ông T được hưởng ½. Do thời hiệu chia thừa kế đối với cụ L2 đã hết nên giao ½ diện tích quyền sử dụng đất của cụ L2 cho ông T. Đối với ½ diện tích còn lại của cụ L1 sẽ được chia cho 05 người con và yêu cầu xem xét công sức đóng góp cũng như việc ông T trực tiếp chăm sóc, thờ cúng cha mẹ khi phân chia di sản thừa kế.
* Bà Lâm Ngọc T2 trình bày với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Thống nhất với ý kiến ông T, ngoài ra bà còn trình bày thêm: Đối với nguồn tiền được nhà nước thu hồi, bồi thường 123.672.000 đồng, bà là người trực tiếp nhận và cùng với ông T sử dụng chung cho gia đình.
* Bà Hồ Thanh H1, bà Hồ Bích P, bà Hồ Thanh N, ông Hồ Tân P1 - người thừa kế thế vị của bà Hồng Thị H thống nhất trình bày: Các ông bà là con ruột của bà Hồng Thị H, bà H chết năm 1969, bà H có 04 người con gồm: Hồ Thanh H1,bà Hồ Bích P, bà Hồ Thanh N, ông Hồ Tân P1.
Trong vụ án tranh chấp chia thừa kế giữa bà Hồng Kim Y với ông Hồng Văn T, các ông bà không có ý kiến và yêu cầu gì, từ chối nhận di sản.
Trường hợp Tòa án có đưa ông bà vào tham gia tố tụng, ông bà xin vắng mặt tại các giai đoạn tố tụng của Tòa án.
* Ông Phạm Hoàng Dũ L,bà Phạm Ngọc T4,bà Phạm Ngọc M1, bà Phạm Ngọc H2, bà Phạm Ngọc T5, bà Phạm Thị Bé T6 - Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị C thống nhất trình bày:
Các ông bà là con ruột của bà Nguyễn Thị C, bà C chết năm 2012. Trong vụ án tranh chấp chia thừa kế giữa bà Hồng Kim Y với ông Hồng Văn T, các ông bà không có ý kiến và yêu cầu gì, từ chối nhận di sản.
Trường hợp Tòa án có đưa ông bà vào tham gia tố tụng, ông bà xin vắng mặt tại các giai đoạn tố tụng của Tòa án.
* Bà Mai Ngọc A, ông Hứa Văn S, bà Nguyễn Thị Thùy T3 thống nhất trình bày: Vào khoảng tháng 9/2012 âm lịch, các ông bà có thuê nhà của ông T để kinh doanh quán cà phê, chỉ thỏa thuận lời nói, không lập hợp đồng. Giá thuê 12.000.000 đồng/năm. Tranh chấp giữa bà Y với ông T, không có liên quan gì cũng như không đặt ra yêu cầu gì trong vụ án này.
Trường hợp Tòa án có đưa ông bà vào tham gia tố tụng, ông bà xin vắng mặt tại các giai đoạn tố tụng của Tòa án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Khi còn sống, cụ L1, cụ L2 đã tặng cho quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa 410, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại ấp B, xã T, thành phố C, theo đo đạc thực tế diện tích còn lại 59,2m².
Ngoài việc tặng cho phần đất trên cho ông T, cụ L1, cụ L2 còn tặng cho cho bà Y phần đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Y năm 1998 thuộc thửa số 103, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại ấp B, xã T, thành phố C.
Như vậy, cha mẹ đã tặng cho ông T, bà Y 02 phần khác nhau. Phần đất nguyên đơn yêu cầu là phần đất của ông T được cha mẹ tặng cho nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chia như sau: Đối với phần diện tích đất 59,2m² mẹ ông T được hưởng ½. Do thời hiệu chia thừa kế đối với cụ L2 đã hết nên giao ½ diện tích quyền sử dụng đất của cụ L2 cho ông T. Đối với ½ diện tích còn lại của cụ L1 sẽ được chia cho 05 người con và yêu cầu xem xét công sức đóng góp cũng như việc ông T trực tiếp chăm sóc, thờ cúng cha mẹ khi phân chia di sản thừa kế. Ông T sẽ được hưởng thêm suất thừa kế.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số:406/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồng Kim Y về việc yêu cầu chia thừa kế là giá trị quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa 410, tờ bản đồ số 223, tọa lạc tại ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Chia cho bà Hồng Kim Y giá trị di sản thừa kế với tổng số tiền là 71.391.000 đồng.
- Buộc ông Hồng Văn T hoàn lại cho bà Hồng Kim Y phần giá trị di sản thừa kế là quyền sử dụng đất mà bà Y được hưởng 62.160.000 đồng.
- Buộc ông Hồng Văn T, bà Lâm Ngọc T2 liên đới hoàn lại cho bà Hồng Kim Y phần giá trị di sản thừa kế là tiền đền bù giá trị quyền sử dụng đất mà bà Y được hưởng 9.231.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền nêu trên, thì phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành án.
- Giao cho Hồng Văn T tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất thuộc thửa 410, tờ bản đồ số 223, tọa lạc tại ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Giao cho ông Hồng Văn T, bà Lâm Ngọc T2 tiếp tục quản lý số tiền từ việc nhận đền bù quyền sử dụng đất (sau khi trừ số tiền bà Y được nhận): 83.079.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồng Kim Y về việc yêu cầu chia giá trị di sản thừa kế với tổng số tiền 445.370.200 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 28/10/2024, bà Hồng Kim Y kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Hồng Kim Y trình bày: Theo đơn kháng cáo ngày 28/10/2024, có nội dung yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm do vi phạm tố tụng, với các lý do cụ thể sau: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồng Kim O là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồng Văn L3 đang định cư tại Australia, nguyên đơn có cung cấp bì thư bà O gởi về Việt Nam cho ông Nguyễn Trọng N2 vào năm 2008, có ghi địa chỉ của bà O. Toà án cấp sơ thẩm không xác minh rõ địa chỉ để xác định thẩm quyền xét xử và chuyển vụ án giải quyết theo thẩm quyền mà lại xét xử vụ án. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử vụ án có yếu tố nước ngoài là vi phạm thẩm quyền xét xử theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, tên của bị đơn là Phạm Văn T1, sinh năm 1955 thể hiện trong tông chi, chứ không có ai tên Hồng Văn T, sinh năm 1958, Trong quá trình xét xử tại Toà án cấp sơ thẩm bị đơn không cung cấp được thông tin xác định ông Hồng Văn T, sinh năm 1958 và ông Phạm Văn T1, sinh năm 1955 có phải là một người hay không? Bản án sơ thẩm xác định bị đơn tên là Hồng Văn T, một người không tồn tại là vi phạm tố tụng, cần huỷ án sơ thẩm.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Hồng Văn T là bà Lâm Ngọc T2 trình bày: Ông T đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo bản án vì lý do sức khoẻ, không muốn tranh chấp kéo dài, ông không đi lại được chứ không phải đồng ý cho bà Y được hưởng di sản thừa kế, bởi lẽ: Bà Hồng Kim Y không có quyền yêu cầu chia thừa kế, do trước đây ông L3 có cho bà Y phần đất khoảng 30m², sau đó bà Y bán nhà dời đi nơi khác ở, còn ông T và bà ở chung cha, mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng lúc già yếu, bệnh tật, thờ cúng và chăm sóc mồ mã đến nay. Nay, Toà án cấp sơ thẩm đã xử chia cho bà Y được hưởng 62.160.000 đồng và phần giá trị di sản thừa kế là tiền đền bù giá trị quyền sử dụng đất mà bà Y được hưởng 9.231.000 đồng, ông T cũng chấp nhận vì là anh, em ruột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Hồng Kim Y; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng, của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bà Hồng Kim Y trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về thẩm quyền xét xử: Bà Hồng Kim Y khởi kiện ông Hồng Văn T để yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật. Do đó, tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về thừa kế được quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét việc thay đổi nội dung yêu cầu kháng cáo của bà Hồng Kim Y tại phiên toà phúc thẩm, yêu cầu Hội đồng xét xử huỷ án sơ thẩm là không vượt phạm vi kháng cáo ban đầu là yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn cho rằng cấp sơ thẩm xét xử vụ án có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ở nước ngoài là không đúng thẩm quyền, là vi phạm tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm thì nguyên đơn, bị đơn đều cho rằng bà O đang định cư tại Australia nhưng không cung cấp được địa chỉ cụ thể của bà O; không biết bà O hiện đang ở đâu, không có bất kỳ thông tin gì về bà O. Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, bà Y có cung cấp 01 bì thư cho rằng của bà O gởi về từ Australia cho ông Nguyễn Trọng N2 vào năm 2008, có ghi địa chỉ ở mặt sau bìa thư. Tại phiên toà, nguyên đơn cho rằng từ lâu không có liên lạc được với bà O, không có tin tức gì và cũng không cung cấp được địa chỉ, không nhận được thông tin gì từ bà Hồng Kim O. Tại phiên toà bị đơn cho rằng bà O trước đây định cư tại Australia từ năm 1984, thỉnh thoảng có liên hệ gia đình qua điện thoại, năm 1996 đến nay gia đình không liên lạc được và không có bất kỳ tin tức gì về bà O.
Do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn không cung cấp được địa chỉ hay thông tin gì để liên lạc với bà Hồng Kim O, nên Toà án cấp sơ thẩm xét xử, nhận định giao kỷ phần thừa kế của bà O cho ông T tạm quản lý, khi bà O có yêu cầu thì ông T sẽ trả cho bà O và các đồng thừa kế theo quy định. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử vụ án là phù hợp quy định của pháp luật, không gây ảnh hưởng quyền lợi của bà O và các đồng thừa kế. Cụ thể, theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 192 Bộ Luật dân sự thì: Đối với vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuộc diện thừa kế mà nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ và Tòa án đã tiến hành các biện pháp để thu thập, xác minh địa chỉ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của người đó thì Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đối với căn cứ kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm do vi phạm tố tụng là xác định không đúng tên, năm sinh của bị đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng: Trong suốt quá trình xét xử nguyên đơn Hồng Kim Y mặc nhiên thừa nhận ông Hồng Văn T, sinh năm 1958 là bị đơn trong vụ án là Phạm Văn T1, sinh năm 1958, là anh ruột của bà Y, từ đó bà Y mới xác định là bị đơn nên khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với ông T1, thể hiện tại lời trình bày của nguyên đơn trong biên bản phiên toà ngày 11/10/2024 và không có ý kiến gì đối với tên Hồng Văn T trong quá trình xét xử sơ thẩm; Mặc khác, tại bản khai tông chỉ ngày 27/3/2023, có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường I, thành phố C thể hiện tên Hồng Văn T, sinh ngày 20/11/1958, căn cước công dân [...], cấp ngày 08/7/2021, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp, là con của ông Hồng Minh L1 và bà Phạm Thị L4. Tại phiên toà bà Lâm Ngọc T2 là vợ ông T cho rằng đã được cơ quan có thẩm quyền cải chính hộ tịch ông Hồng Văn T, sinh năm 1958 và Phạm Văn T1, sinh năm 1958 là cùng một người. Từ các căn cứ nêu trên, có đủ căn cứ xác định bị đơn tham gia tố tụng tên Hồng Văn T, sinh năm 1958 (Phạm Văn T1, sinh năm 1958) là cùng một người, được cơ quan có thẩm quyền cấp căn cước công dân theo quy định pháp luật, nên cấp sơ thẩm xác định ông Hồng Văn T tên gọi khác Phạm Văn T1 là bị đơn là có căn cứ pháp luật, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn cho rằng ông Hồng Văn T, sinh năm 1958 là bị đơn trong vụ án là người không có thật, bản án sơ thẩm đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn là vi phạm tố tụng là không có căn cứ chấp nhận.
[5] Với những phân tích trên, xét thấy các căn cứ yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm của nguyên đơn là không có căn cứ pháp luật. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Hồng Kim Y giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[6] Án phí phúc thẩm bà Hồng Kim Y không phải chịu do là người cao tuổi.
[7] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Hồng Kim Y; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 406/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồng Kim Y về việc yêu cầu chia thừa kế là giá trị quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa 410, tờ bản đồ số 223, tọa lạc tại ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- - Chia cho bà Hồng Kim Y giá trị di sản thừa kế với tổng số tiền là 71.391.000 đồng.
- - Buộc ông Hồng Văn T hoàn lại cho bà Hồng Kim Y phần giá trị di sản thừa kế là quyền sử dụng đất mà bà Y được hưởng 62.160.000 đồng.
- - Buộc ông Hồng Văn T, bà Lâm Ngọc T2 liên đới hoàn lại cho bà Hồng Kim Y phần giá trị di sản thừa kế là tiền đền bù giá trị quyền sử dụng đất mà bà Y được hưởng 9.231.000 đồng.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành xong khoản tiền nêu trên, thì phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành án.
- - Giao cho Hồng Văn T tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất thuộc thửa 410, tờ bản đồ số 223, tọa lạc tại ấp B, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- - Giao cho ông Hồng Văn T, bà Lâm Ngọc T2 tiếp tục quản lý số tiền từ việc nhận đền bù quyền sử dụng đất (sau khi trừ số tiền bà Y được nhận): 83.079.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồng Kim Y về việc yêu cầu chia giá trị di sản thừa kế với tổng số tiền 445.370.200 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Bao gồm chi phí đo đạc 3.228.000 đồng và định giá 10.000.000 đồng nguyên đơn đã dự nộp. Do nguyên đơn được chia di sản thừa kế nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồng Kim Y không phải chịu (được miễn nộp do người cao tuổi.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hồng Kim Y không phải chịu do là người cao tuổi.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn A Đam |
Bản án số 148/2025/DS-PT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia thừa kế
- Số bản án: 148/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hồng Kim Yến yêu cầu ông Hồng Văn Tuấn chia di sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
