|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 148/2024/HS - ST Ngày: 04 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hiền
- Ông Nguyễn Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đạt - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Ngọc Đ (tên gọi khác: không), sinh ngày 31 tháng 7 năm 1986 tại huyện G, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: tổ D, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hồng Q (đã chết) và con bà Tăng Thị H; có vợ là Trần Minh D (đã ly hôn), có một con sinh năm 2013; tiền án: ngày 23/5/2019 Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 25/12/2020 chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành xong phần dân sự của bản án; tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 29/6/2024, bị tạm giữ từ ngày 30/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại: chị Đặng Bích D1, sinh năm 1995 (nơi thường trú: tổ E, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên toà (có đơn xin xử vắng mặt).
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Cao H1, sinh năm 1985 (nơi thường trú: tổ A, khu L, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên toà.
- Chị Ngô Hương L, sinh năm 2000 (nơi thường trú: thôn Đ, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên toà.
- Anh Đỗ Văn B, sinh năm 1995 (nơi thường trú: tổ E, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh), vắng mặt tại phiên toà.
- Bà Tăng Thị H2, sinh năm 1962 (nơi thường trú: tiểu khu G, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La), vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: do cần tiền trả nợ nên ngày 19/6/2023, Đ mượn xe ô tô Mazda BT50 của người tên H3 (không nhớ thông tin về xe và người), rồi mang đến salon ô tô Sông Sinh thuộc tổ A, khu A, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh cầm cố cho anh Cao H1 vay 100.000.000 đồng và hẹn hôm sau trả tiền chuộc xe. Anh H1 đồng ý và chuyển khoản 100.000.000 đồng cho Đ. Có tiền vay, Đ đem trả nợ, còn lại 39.000.000 đồng. Đến hạn nhưng không đủ tiền “chuộc” xe nên Đ nảy sinh ý định thuê xe tự lái khác để cầm cố thay thế, cho anh H1. Để thực hiện mục đích, khoảng 19 giờ ngày 20/6/2023, Đ đến hộ kinh doanh tại tổ B, khu T, phường C, thành phố C của gia đình vợ chồng anh chị Đỗ Văn B và Đặng Bích D1 (nơi trước đây Đ đã từng thuê xe) ký hợp đồng thuê xe ô tô tự lái nhãn hiệu Fadil BKS 14A-719.36 (trị giá 296.238.600 đồng - Chủ sở hữu là chị Ngô Hương L giao cho chị D1 để kinh doanh), thời hạn thuê 03 ngày từ ngày 20 đến ngày 23/6/2023 với giá 700.000 đồng/ngày. Nhận được xe, Đ mang luôn đến salon ô tô Sông Sinh cầm cố xe 14A-719.36 để chuộc xe Mazda, đồng thời trả trước cho anh Cao H1 39.000.000 đồng và viết lại giấy vay nợ anh H1 61.000.000 đồng thay cho giấy vay nợ 100.000.000 đồng đã viết trước. Sau đó, Đ mang xe M đi trả bạn rồi bỏ trốn.
Còn chị D1 hết thời hạn cho thuê xe, không liên lạc được với Đ. Ngày 24/6/2023, chị D1 và anh B tiếp tục liên lạc thì Đ báo cho biết đã mang đi cầm cố. Chị D1, anh B không đồng ý, yêu cầu Đ mang xe trả. Sau đó, từ ngày 24/6/2023 đến ngày 12/7/2023 vợ chồng anh B nhiều lần gọi điện đòi nhưng Đ chỉ hứa hẹn mà không trả xe. Sau đó, ngày 13 và ngày 24/7/2023 Đ đã chuyển khoản cho anh B lần lượt 50.000.000 đồng và 7.000.000 đồng. Do Đ chưa chuyển đủ 61.000.000 đồng đã cầm cố xe nên anh B chưa đi chuộc được xe và cũng chưa nói cho chị D1 biết. Ngày 25/7/2023 chị D1 đến Công an thành phố cẩm Phả tố giác hành vi phạm tội của Đ. Ngày 03/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đến Salon S xác minh, tạm giữ xe ô tô trên. Ngày 06/8/2023 Đ chuyển tiếp cho anh B 21.000.000 đồng. Sau khi đã nhận đủ 78.000.000 đồng, anh B chuyển 61.000.000 đồng cho anh Cao H1, số còn lại trừ vào tiền Đ thuê xe (tính đến ngày 13/7/2023).
Do Đ bỏ trốn, ngày 22/01/2024 Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã. Ngày 29/6/2024, Công an tỉnh Q phối hợp với Công an huyện M, tỉnh Sơn La bắt được Đ tại thị trấn H, huyện M, thu giữ của Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, gắn 01 sim số 0346876048.
Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô BKS 14A-719.36 cho chủ sở hữu là chị Ngô Hương L. Tài sản còn lại chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả bảo quản theo quy định.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTX ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá trong tố tụng hình sự thành phố C, tỉnh Quảng Ninh kết luận: xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil, BKS 14A-719.36 trị giá 296.238.600 đồng.
Quá trình điều tra, Trần Ngọc Đ khai nhận như trên và khai: Khi cầm cố 02 xe cho anh Cao H1, Đ đều nói là xe của gia đình. Số tiền có được trả nợ cho nhiều người nhưng không nhớ tên tuổi, địa chỉ. Sau khi trả xe cho H3 xong, do không có tiền trả nợ đã bỏ trốn đến tỉnh Sơn La, bán điện thoại và vứt số sim 0922.702.xxx để không ai liên hệ được với Đ đòi nợ.
Anh Đỗ Văn B chị Đặng Bích D1, anh Cao H1, chị Ngô Hương L, có lời khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên. Anh B và chị D1, anh Cao H1 đã nhận đủ tiền Đ thuê và cầm cố xe ô tô, chị Ngô Hương L đã nhận lại tài sản là chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil, BKS 14A-719.36 cùng giấy tờ xe, nên họ không có yêu cầu gì khác.
Bà Tăng Thị H2 là bác ruột của Trần Ngọc Đ, vào khoảng tháng 9/2023 có cho Đ vay 60.000.000đồng để bị cáo trả cho nơi mà Đ đã cầm cố lấy xe ô tô về. Nay bà H2 không có yêu cầu và đề nghị gì đối với số tiền Đ đã vay năm 2023.
Cáo trạng số 2683/CT - VKSCP ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Trần Ngọc Đ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 – Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Ngọc Đại T 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/6/2024. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: trả lại cho bị cáo điện thoại di động nhãn hiệu OPPO gắn 01 sim.
Bị cáo không có ý kiến gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả và bản luận tội của Kiểm sát viên.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tòan bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: tại phiên tòa, bị cáo có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung vụ án, lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cùng các chứng cứ tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án như: biên bản bắt người đang bị truy nã, bản ảnh về chiếc xe ô tô, bản Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTX ngày 18/9/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá trong tố tụng hình sự thành phố C, tỉnh Quảng Ninh... thấy phù hợp với nhau về không gian, thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc.
Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: do cần tiền, ngày 19/6/2023 Trần Ngọc Đ mượn xe ô tô Mazda của bạn (không nhớ thông tin về xe và người) mang đến salon ô tô Sông Sinh thuộc tổ A, khu A, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh cầm cố cho anh Cao H1 lấy 100.000.000 đồng. Đến hẹn trả nợ nhưng không có tiền trả nợ và lấy xe ô tô Mazda nên vào ngày 20/6/2023, Đ đã dùng thủ đoạn gian dối là nói dối vợ chồng anh chị Đỗ Văn B, Đặng Bích D1 thuê xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Fadil BKS 14A-719.36 trị giá 296.238.600 đồng để sử dụng. Nhưng ngay sau khi nhận được xe, Đ đã mang đi cầm cố cho anh Cao H1 để chuộc xe Mazda. Đ trả trước cho anh Cao H1 39.000.000 đồng và viết lại giấy vay nợ anh H1 61.000.000 đồng thay cho giấy vay nợ 100.000.000 đồng đã viết trước. Sau đó, Đ mang xe M đi trả bạn rồi bỏ trốn. Mục đích chiếm đoạt tài sản đã hình thành từ trước khi bị cáo nhận được tài sản, nên hành vi nêu trên của Trần Ngọc Đ đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.”
[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây tâm tư hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo đã có tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích do bị cáo chưa chấp hành phần thi hành án dân sự, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục đi vào còn đường phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, vì vậy lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên cũng xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả bằng việc chuyển trả tiền để bị hại đến S Ô tô Sông S chuộc xe về. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: vợ chồng anh Đỗ Văn B và anh Cao H1 đã nhận đủ tiền Đ thuê và cầm cố xe ô tô, các bên không có yêu cầu gì khác. Bà Tăng Thị H2 không có yêu cầu gì đối với số tiền đã cho Đ vay để chuộc xe mà Đ đã đem cầm cố- do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Vật chứng: đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, gắn 01 sim số 0346876048 cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[9] Anh Cao H1 là người cầm cố xe ô tô BKS 14A-719.36 nhưng không biết do Đ phạm tội mà có. UBND thành phố U ban hành Quyết định số 82/QĐ-XPHC ngày 19/11/2024 đối với Cao Hảo vì đã có hành vi “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy uỷ quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”, nên HĐXX không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ vào: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 - Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Trần Ngọc Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Trần Ngọc Đ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/6/2024.
-Về vật chứng: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Trả lại cho bị cáo điện thoại di động nhãn hiệu OPPO gắn 01 sim (tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 15/BB-THA ngày 24/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).
-Về án phí: căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Trần Ngọc Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 148/2024/HS - ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 148/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Ngọc Đ phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
